Thứ Ba, 1 tháng 4, 2014

GIÁO ÁN CHINH PHỤ NGÂM

Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ
Trích: Chinh phụ ngâm
Nguyên tác: Đặng Trần Côn
Dịch giả: Đoàn Thị Điểm (?)
A.      MỤC TIÊU CẦN ĐẠT.
1. Về kiến thức
- Hiểu được tâm trạng cô đơn, lẻ loi của người chinh phụ, lòng đồng cảm sâu sắc của tác giả đối với khát vọng hạnh phúc lứa đôi.
- Thấy được nghệ thuật miêu tả tâm trạng nhân vật và âm điệu thiết tha của đoạn trích.
2. Về kĩ năng
- Rèn luyện kĩ năng phân tích nội tâm nhân vật trong tác phẩm trữ tình.
3. Về thái độ
- Có thái độ lên án, căm ghét chiến tranh phi nghĩa, đồng cảm với khát vọng hạnh phúc con người.
B.      CHUẨN BỊ BÀI HỌC.
1. Phương pháp dạy học.
- Phương pháp đọc sáng tạo.
- Phương pháp gợi mở.
- Phương pháp giảng bình.
2. Phương tiện dạy học.
- Sách giáo khoa, sách giáo viên Ngữ văn 10, tập II
- Thiết kế bài giảng.
- Tài liệu tham khảo.
- Bảng phụ.

C. HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC.
1.     Ổn định lớp.
2.     Kiểm tra bài cũ.
3.     Bài mới.
Lời vào bài:
Chinh phụ ngâm” là tác phẩm thuộc về thời đại đặc biệt trong cả lịch sử xã hội cũng như lịch sử văn học Việt Nam. Với “Chinh phụ ngâm”, lần đầu tiên tâm trạng con người đi vào thơ ca không chỉ bằng những khoảnh khắc có tính lát cắt mà được soi chiếu trong tính nguyên khối của nó với tất cả những góc độ sáng tối, lần đầu tiên cá nhân con người, cuộc sống và số phận con người mà cụ thể ở đây là người phụ nữ và thân phận bi kịch của họ trở thành đối tượng chính của văn học. Ở lớp 7, các em đã được làm quen với tác phẩm này qua một trích đoạn “Sau phút chia ly” dài 12 câu. Hôm nay, cô trò chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu kĩ hơn cái hay, cái đẹp, cái đặc biệt của tác phẩm thông qua một đoạn trích 24 câu: “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ”.
Hoạt động 1: Tìm hiểu phần Tiểu dẫn sách giáo khoa.
Hoạt động của GV – HS
Nội dung kiến thức cần đạt.
GV: Phần tiểu dẫn SGK cung cấp cho chúng ta thông tin về những nội dung gì?
HS: Tác giả, dịch giả, tác phẩm, đoạn trích; lần lượt trình bày những thông tin chính về các nội dung đó.
GV: Mở rộng thông tin về tác giả.






GV: Giải thích tại sao SGK cung cấp thông tin về hai dịch giả.
HS: Trình bày về dịch giả Đoàn Thị Điểm.



GV: Mở rộng và định hướng quan điểm cho rằng Đoàn Thị Điểm là dịch giả của bản diễn Nôm hiện hành.










HS: Đọc thông tin về dịch giả Phan Huy Ích.





HS: Trình bày hoàn cảnh sáng tác dựa theo SGK.
GV: Cung cấp nguồn tư liệu chính xác về hoàn cảnh sáng tác.





HS: So sánh bản diễn Nôm và nguyên tác theo gợi ý của GV.
GV: Định hướng HS tìm ra những nét khác biệt của bản diễn Nôm so với nguyên tác, ý nghĩa của những nét khác biệt đó. Từ đó chỉ ra sự thành công và giá trị của bản diễn Nôm.













GV: Cung cấp cho HS tóm tắt nội dung và kết cấu tác phẩm.












HS: Dựa vào SGK chỉ ra giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm.



GV: Mở rộng về vị trí và giá trị của tác phẩm trong nền văn học giai đoạn đó.



















HS: Dựa trên kết cấu, xác định xuất xứ và chỉ ra vị trí, đại ý, bố cục đoạn trích.
GV: Định hướng và chốt lại.








GV: Hướng dẫn HS đọc diễn cảm đoạn trích.
I.                  Tìm hiểu chung.
1.     Tác giả: Đặng Trần Côn.
-         Quê quán: Làng Nhân Mục, huyện Thanh Trì, nay thuộc Thanh Xuân, Hà Nội.
-         Sống vào thời đại: Nửa đầu thế kỉ XVIII.
-         Sáng tác: Thơ, phú chữ Hán và Chinh phụ ngâm.
Mở rộng:
-         Trong “Tang thương ngẫu lục” viết về Đặng Trần Côn: “Trong khoảng trường ốc, văn chương ông tiếng lừng thiên hạ”. Là người học rộng, tài ba, tính tình phóng túng, không lệ thuộc chuyện thi cử.


2.     Dịch giả.
a.     Đoàn Thị Điểm (1705 – 1748).
-         Hiệu: Hồng Hà nữ sĩ.
-         Quê: Làng Giai Phạm, huyện Văn Giang, trấn Kinh Bắc, tỉnh Hưng Yên.
-         Cuộc đời: Lập gia đình muộn (37 tuổi), vừa cưới xong thì chồng phải đi sứ Trung Quốc.
Mở rộng:
-         Được chồng ca ngợi: “Tài năng nương tử, xưa hiếm nay không”.
-         Sống cùng thời Đặng Trần Côn. Tương truyền, bà sống cùng thời với Đặng Trần Côn, hai người thường hay đàm đạo thơ văn. Đặng Trần Côn sáng tác Chinh phụ ngâm trong khoảng thời gian chồng bà đi sứ và gửi bà đọc để góp ý. Đoàn Thị Điểm say sưa đọc vì dường như tác phẩm nói lên chính nỗi lòng bà.
ð Tài năng + Lòng đồng cảm: Khiến Đoàn Thị Điểm diễn Nôm thành công tác phẩm này.
b.     Phan Huy Ích (1750 – 1822).
-         Quê: Làng Thu Hoạch, huyện Thiên Lộc, trấn Nghệ An (thuộc Hà Tĩnh).
-         Sáng tác: Dụ Am văn tập, Dụ Am văn lục.

3.     Tác phẩm.
a.     Hoàn cảnh sáng tác.
       Theo Phan Huy Chú trong “Lịch triều hiến chương loại chí”: “Đầu đời Cảnh Hưng (1741 – 1742, có việc binh đao, cảnh biệt ly của người đi chinh chiến và kẻ ở lại khiến ông cảm xúc mà làm”.
ð Tác giả nhập vai vào người chinh phụ - kẻ ở lại để diễn tả, bày tỏ muôn ngàn những cung bậc cảm xúc, tâm trạng khác nhau.


b.     Nguyên tác và bản diễn Nôm.
Nguyên tác
Bản diễn Nôm
Chữ Hán
Chữ Nôm
76 câ
412
âu
Thể trường đoản cú
Thể song thất lục bát
Thể loại: Ngâm khúc
Thể loại: Ngâm khúc
Nhận xét:
So với nguyên tác, bản diễn Nôm:
+ Số câu thơ ít hơn.
+ Sử dụng chữ Nôm: Ngôn ngữ toàn dân =>  Đưa tác phẩm đến với đông đảo bạn đọc.
+ Thể song thất lục bát – thể thơ thuần dân tộc: Câu song thất xen câu lục bát, vần trắc kết hợp vần bằng, vần chân xen vần lưng khiến âm điệu câu thơ xoắn xít, kéo dài, thích hợp với việc diễn tả tâm trạng triền miên.
ð Bản diễn Nôm hiện hành được đánh giá là thành công nhất. Khi nhắc tới Chinh phụ ngâm, người ta hầu như chỉ nhớ tới bản diễn Nôm mà không nhắc tới nguyên tác.
c.      Kết cấu.
Kết cấu 3 phần:
Phần 1: Hai người đang sống hạnh phúc thì chiến tranh xảy ra, vợ tiễn chồng ra trận.
Phần 2: Sau khi tiễn chồng ra trận, người vợ trở về phòng khuê với muôn nghìn cung bậc tâm trạng.
Phần 3: Người chinh phụ sống trong hoàn cảnh hoàn toàn vắng biệt tin chồng.
Nhận xét:
Có thể nói, kết cấu tác phẩm dựa trên mạch vận động tâm trạng của người chinh phụ:
Hi vọng => Thất vọng => Tuyệt vọng.

d.     Giá trị nội dung và nghệ thuật.
-         Giá trị nội dung
+ Oán ghét chiến tranh phong kiến phi nghĩa.
+ Thể hiện tâm trạng khao khát tình yêu và hạnh phúc lứa đôi.
-         Giá trị nghệ thuật
Bút pháp trữ tình + miêu tả nội tâm sâu sắc.
Mở rộng:
       Tác phẩm làm vang lên những âm hưởng hoàn toàn khác lạ trong văn chương đương thời – văn chương “văn dĩ tải đạo, thi dĩ ngôn chí” ngự trị suốt gần mười thế kỉ Văn học trung đại. Tác phẩm chạm đến miền tâm tư sâu thẳm với những xúc cảm thầm kín, dồn nén từ phía người phụ nữ. 
      Về nghệ thuật: Sử dụng tài tình bút pháp trữ tình khắc họa nội tâm với những nỗi niềm sâu kín.
ð Được coi là tác phẩm mở đầu cho trào lưu nhân đạo chủ nghĩa của Văn học Việt Nam thế kỉ XVIII – nửa đầu XIX.

4.     Đoạn trích.
-         Xuất xứ: Thuộc phần 2 (Khi người chinh phụ trở về phòng khuê).
-         Vị trí: Từ câu 193 – 216.
-         Đại ý: Tình cảnh và tâm trạng cô đơn, lẻ loi cùng nỗi sầu muộn, nhớ nhung của người chinh phụ.
-         Bố cục: 2 phần.
+ Phần 1 (16 câu đầu) : Tình cảnh cô đơn, lẻ loi của người chinh phụ.
+ Phần 2 (8 câu cuối) : Nỗi nhớ nhung và khát vọng hạnh phúc.
-         Đọc: Nhịp điệu chậm rãi, âm điệu buồn thương, sầu tủi, diễn tả những cung bậc cảm xúc khác nhau của người chinh phụ/





Hoạt động 2: Đọc hiểu 16 câu thơ đầu.
Hoạt động của GV – HS.
Nội dung kiến thức cần đạt.
GV hướng dẫn HS đọc đoạn trích với nhịp điệu chậm rãi, âm điệu buồn thương, sầu tủi, diễn tả những cung bậc cảm xúc khác nhau của người chinh phụ.
GV: Hai câu thơ đầu, người chinh phụ hiện lên với những hành động và dáng vẻ nào? Em có cảm nhận gì về hành động, dáng vẻ ấy? Chúng gợi tả tâm trạng gì?









GV: Hành động, dáng vẻ ấy được miêu tả trong không gian nào? Nghệ thuật khắc họa không gian đó?











GV: Trước nỗi cô đơn, lẻ loi ấy, người chinh phụ tìm đến hình ảnh, sự vật nào để giãi bày tâm sự? Nghệ thuật nào khắc họa người bạn tri âm đó của nàng?



GV: Em có cảm nhận gì về tâm trạng người chinh phụ thông qua hình ảnh ngọn đèn? Mời một em thử bình về hình ảnh này?









GV: Nỗi niềm xót xa ấy được khắc họa trực tiếp qua những từ ngữ nào? Những từ ngữ đó cho em hiểu thêm gì về tâm trạng người chinh phụ?








GV: Cõi lòng chất đầy tâm trạng ấy hướng ra ngoại cảnh nhằm vơi bớt nỗi sầu. Ngoại cảnh hiện lên trong mắt nàng như thế nào? Được khắc họa thông qua những biện pháp nghệ thuật nào?

GV: Ngoại cảnh ấy cho em dấu hiệu gì về thời gian?
















GV: Hai câu thơ trên sử dụng biện pháp nghệ thuật nào? Hiệu quả của những biện pháp nghệ thuật đó?



















GV dẫn: Đi lại, buông rèm xuống, cuốn rèm lên, trò chuyện với mình, lại trông ra ngoại cảnh mà mối sầu vẫn “dằng dặc tựa miền biển xa”, người chinh phụ làm gì trước tình cảnh ấy? Em hãy tìm những hành động của nàng, chỉ ra mục đích và kết quả của những hành động đó?
HS: Trả lời bằng cách điền thông tin vào bảng. Nhận xét và cảm nhận về tâm trạng, tình cảnh người chinh phụ thông qua những hành động đó.













HS: Đọc chú thích (6), (7), (8) trong SGK để hiểu thêm về hai câu thơ cuối.




HS: Tìm từ ngữ được điệp nhiều lần, chỉ ra hiệu quả nghệ thuật của phép điệp đó.









GV: Định hướng và chốt lại.








II.               Đọc hiểu văn bản.
1.     16 câu đầu: Tình cảnh cô đơn, lẻ loi của người chinh phụ.



Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước
Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen.
·        Hành động.
Dạo, thầm gieo: Thầm đếm từng bước chân khi đi dạo ngoài hiên vắng.
Rủ thác đòi phen: Buông rèm xuống (rủ), cuốn rèm lên (thác) nhiều lần (đòi phen).
ð Hành động vô nghĩa, lặp đi lặp lại, không mục đích => Gợi tả tâm trạng bồn chồn, không yên, cô đơn, trống trải.
Mở rộng: Cung oán ngâm
Buồn mọi nỗi lòng đà khắc khoải
Ngán trăm chiều bước lại ngẩn ngơ.
·        Không gian.
Hiên vắng, rèm thưa.
Trong rèm / Ngoài rèm: Đối lập nhưng đồng nhất.
Nhận xét:
Khắc họa không gian ngoài vào trong, dừng lại nơi khuê phòng người chinh phụ. Không gian ngoài thì vắng lặng, tiếng chim thước chẳng báo tin vui. Không gian bên trong cũng vậy. Đối lập mà thực ra là đồng nhất.
Nỗi lòng biết ngỏ cùng ai
Thiếp trong cánh cửa chàng ngoài chân mây.
ð Không gian quạnh quẽ, vắng vẻ càng nhân thêm nỗi cô đơn, lẻ loi của người chinh phụ.
·        Ngọn đèn.
Nghệ thuật khắc họa hình ảnh ngọn đèn:
+ Câu hỏi tu từ: Trong rèm dường đã có đèn biết chăng.
+ Điệp ngữ nối tiếp: Đèn có biết – Đèn chẳng biết.
+ Từ phủ định: chẳng.
+ Đối xứng: Hoa đèn / Bòng người.
+ Nhân hóa: đèn “biết”.
ð Tâm trạng người chinh phụ:
Người chinh phụ tìm đến ngọn đèn để giãi bày tâm sự. Hình ảnh ngọn đèn được nhân hóa để trở thành người bạn của nàng. Nàng hỏi đèn tự hỏi mình, câu hỏi đưa ra không có lời giải đáp, nàng cũng không mong sẽ có lời giải đáp. Bởi đèn là vật vô tri vô giác, đâu thể san sẻ, lắng nghe nỗi lòng nàng. Cuộc đối thoại trở thành lời độc thoại. Nàng chỉ còn biết đơn độc với chiếc bóng, với ngọn đèn tàn và tự thầm thì với lòng mình những nỗi niềm xót xa.
·        Bộc lộ trực tiếp.
Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi
Buồn rầu nói chẳng nên lời.
Hoa đèn kia với bóng người khá thương.
-         Bi thiết: Đau đến cắt lòng, cắt ruôt.
-         Buồn rầu: Buồn không giấu được đến nỗi thể hiện ra nét mặt.
-         Mà thôi: Đành phải chấp nhận vì không còn cách nào khác.
ð Nàng tủi, nàng thương cho thân phận mình, tình cảnh mình. Nỗi buồn không thể chia sẻ càng không thể thốt nên lời, càng đè nặng và thiêu đốt tâm can.
·        Ngoại cảnh.
-         Tiếng gà – eo óc.
-         Bóng hòe – phất phơ.
ð Từ láy kết hợp nghệ thuật đối (Gà eo óc – Hòe phất phơ).
ð Ngoại cảnh hiện lên ảm đạm, đượm buồn qua con mắt nặng trĩu tâm trạng của người chinh phụ.
-         Dấu hiệu thời gian hiện lên qua ngoại cảnh:
+ Tiếng gà năm trống: trọn một đêm
+ Hòe rủ bóng bốn bên: Bóng hòe rủ bốn bên biểu hiện bước đi của mặt trời trọn một ngày.
ð Thời gian luân chuyển từ ngày sang đêm liên tiếp, triền miên biểu hiện nỗi sầu cũng triền miên kéo dài không dứt từ ngày này sang ngày khác.
Mở rộng:
Cung oán ngâm:
Ngày sáu khắc, mong tin nhạn vắng
Đêm năm canh, tiếng lắng chuông rền.
ð Thời gian chuyển tiếp ngày đêm không ngừng trên nền không gian hiu quạnh, vắng vẻ, vậy nên:
Khắc giờ đằng đẵng như niên
Mỗi sầu dằng dặc tựa miền biển xa.
-         Từ láy: đằng đẵng, dằng dặc
+ đằng đẵng: dài quá, lâu quá, không biết khi nào mới hết.
(Ca dao: Trời ơi có thấu tình chăng
Một ngày đằng đẵng xem bằng ba thu)
+ dằng dẵng: kéo dài mãi như không có giới hạn.
(Đầu tác phẩm, trong cảnh đưa tiễn, chia ly, người chinh phụ thổ lộ:
Đưa chàng lòng dằng dặc buồn
Bộ khôn bằng ngựa, thủy khôn bằng thuyền.
-         So sánh:
+ khắc giờ – niên
+ mối sầu – biển xa.
ð Từ láy kết hợp so sánh đặc tả nỗi cô đơn, sầu muộn trong tình cảnh đơn chiếc, lẻ loi của nàng. Nỗi sầu tủi cô đơn ấy trải rộng theo không gian và kéo dài theo thời gian.
Mở rộng:
Nàng Kiều của Nguyễn Du khi đối diện với nỗi sầu cũng vậy:
Sầu đong càng lắc càng đầy
Ba thu dọn lại một ngày dài ghê.





·        Hành động
Hành động
Mục đích
Kết quả
đốt hương
sưởi ấm căn phòng và tâm hồn.
hồn đà mê mải
soi gương
trang điểm, vấn tóc, ngắm nhìn dung nhan
lệ lại châu chan
gảy đàn
tìm thú vui giải khuây, vơi nỗi buồn.
dây uyên kinh đứt, phím loan ngại chùng.
-         Đốt hương: Hồn mê mải (mê mải: ở trạng thái tập trung cao độ vào một việc gì đó đến mức không còn biết gì nữa) => “Mê mải”, chìm đắm vào nỗi buồn. Hơi ấm của hương không đủ làm vơi cái lạnh lẽo, trống trải trong lòng.
-         Soi gương: Lệ chứa chan => Nước mắt nhòe hình ảnh trong gương. Bởi: Vắng chàng điểm phấn, tô hồng với ai. => Nuối tiếc, thương cho tuổi xuân, sắc đẹp qua đi mỗi ngày.
-         Gảy đàn: Tiếng đàn là âm thanh giao duyên, gắn bó lứa đôi (sắt cầm, dây uyên, phím loan), là âm thanh nàng hi vọng tìm được sự đồng cảm thế nhưng gảy đàn nàng lại sợ dây uyên đứt, e phím loan chùng. Dây đứt, phím chùng là điềm gở, báo hiệu điều không may cho hạnh phúc lứa đôi.
ð Điệp từ “gượng” lặp lại 3 lần (Gượng: Cố làm cho ra vẻ tự nhiên nhưng đang có tâm trạng buồn:
Sầu đông trong héo ngoài tươi
Vui là vui gượng cười là cười khuây
(Ca dao)
hoặc:
Vui là vui gượng kẻo mà
Ai tri âm đó mặn ma với ai
(Truyện Kiều)
ð Điệp từ gượng diễn tả sự miễn cưỡng, gượng gạo trong hành động của nàng.
ð Như vậy, trong tâm trạng cô đơn, lẻ loi, đau khổ, trống trải, người chinh phụ mong được giải thoát bằng tất cả những vật bên mình nhưng tất cả vô tri, vô giác, hầu như không có chút đồng cảm nào với nàng, thậm chí còn khiến nàng thêm sợ hãi, lo lắng => Trạng thái bế tắc trong hành động và tâm tư.
Mượn hoa mượn rượu giải sầu
Sầu làm rượu nhạt, rượu làm hoa ôi.

Hoạt động 3: Tìm hiểu 8 câu thơ cuối đoạn trích.
Hoạt động của GV – HS
Nội dung kiến thức cần đạt
GV gợi mở: Như vậy, trong 16 câu thơ đầu, tình cảnh cô đơn, lẻ loi của người chinh phụ được tái hiện qua rất nhiều cung bậc tâm trạng khác nhau. Bởi đơn côi, nàng buồn rầu, bi thiết, bởi bi thiết nàng lo lắng, e sợ, rồi khát khao hạnh phúc sum vầy. Trên tất cả, nỗi nhớ thương da diết của tấm lòng yêu thủy chung chính là khởi nguyên của những cung bậc cảm xúc mãnh liệt ấy. Chúng ta cùng nhau tìm hiểu 8 câu thơ tiếp theo để hiểu rõ hơn nỗi nhớ thương đó.
GV: Tác giả diễn tả nỗi nhớ của người chinh phụ thông qua những hình ảnh, từ ngữ và biện pháp nghệ thuật nào?
HS: Trả lời kết hợp chú thích SGK.






GV: Kết hợp ý kiến của HS, bình và chốt lại.


GV: Nhưng nỗi nhớ của nàng có lẽ còn lớn hơn tất cả. Từ nào cho em biết điều đó?




HS: Tìm hình ảnh so sánh với nỗi nhớ, phân tích.
GV: Em hãy tìm thêm từ ngữ đặc tả nỗi nhớ.




GV: Kết luận, mở rộng.






GV: Em có nhận xét gì về hai câu thơ cuối đoạn trích? Hai câu thơ ấy diễn tả điều gì và khiến em nhớ tới câu thơ nào của Nguyễn Du?







HS: Trình bày cảm nhận về bức tranh thiên nhiên cuối đoạn trích.


HS: Nhận xét về giọng điệu của 8 câu thơ cuối.
HS: Khái quát lại những cung bậc cảm xúc của người chinh phụ qua toàn bộ đoạn trích.






HS: Kết hợp với việc tìm hiểu đoạn trích và tìm hiểu Tiểu dẫn, một em tổng kết giá trị nội dung và nghệ thuật?
GV: Định hướng và chốt lại.














2.     8 câu thơ cuối: Nỗi nhớ nhung của người chinh phụ.








·        Hình ảnh, từ ngữ:
-         Lòng này: Tấm lòng, tình yêu, nỗi nhớ, nỗi sầu tủi của nàng.
-         Gió đông: Gió từ phương đông thổi tới – gió mùa xuân, mang đến sự ấm áp, tốt tươi cho vạn vật, gió xuân gợi sự sum vầy và hạnh phúc lứa đôi.
-         Nghìn vàng: đối với “lòng này” – tấm lòng của thiếp quý tựa nghìn vàng.
-         Non Yên: hình ảnh ước lệ chỉ nơi biên ải xa xôi, nơi chiến trường người chồng đang chiến đấu.
ð Nỗi nhớ khiến cho nàng có những ước muốn thật lãng mạn, nàng muốn  nhờ cơn gió xuân ấm áp mang tới chồng ở nơi xa những tâm sự, nhớ nhung của mình. Bản thân nàng cũng biết rằng điều đó là không thể - “dù chẳng tới miền” – khoảng cách không gian quá lớn.
-         Thăm thẳm (Rất sâu, đến hút tầm mắt, không thể nhận ra đâu là điểm cuối cùng)
Ca dao: Nghĩ điều thăm thẳm vực sâu
          Bóng chim tăm cá, biết đâu mà tìm.
ð Thăm thẳm: Vừa gợi độ sâu, độ cao, chiều rộng => Mở ra không gian ba chiều của nỗi nhớ.
-         So sánh: Nỗi nhớ - đường lên trời: So sánh hai thứ không thể đo đếm được => Nhấn mạnh nỗi nhớ khôn cùng, khôn thấu.
-         Đau đáu (Trạng thái không yên do có điều gì lo lắng, quan tâm, cái nhìn chăm chăm, biểu lộ sự lo lắng) => Một từ đau đáu diễn tả được hai sắc thái của nỗi nhớ => Hình ảnh đôi mắt người chinh phụ luôn dõi theo người chinh phu nơi biên ải xa xôi. Đó là đôi mắt ắp đầy tình yêu, nỗi nhớ và sâu nặng thủy chung.
ð Như vậy, nếu như “thăm thẳm” mở ra không gian ba chiều (sâu, cao, rộng) của nỗi nhớ thì “đau đáu” gợi tả độ sâu sắc của nỗi nhớ. 
Mở rộng: Xin làm bóng theo cùng chàng vậy
               Chàng ở đâu cũng thấy thiếp bên.
·        Cảnh buồn người thiết tha lòng
Cành cây sương đượm, tiếng trùng mưa phun.
ð Nỗi buồn của người lây lan sang cảnh vật.
Thơ Nguyễn Du:
Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu
Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ
ð Mối quan hệ sâu sắc giữa ngoại cảnh và tâm cảnh, giữa thiên nhiên và con người.
-         Thiết tha: Nỗi nhớ như cắt, như mài.
-         Thiết tha lòng: Nhấn mạnh nỗi nhớ, nỗi buồn đau, sầu tủi. Những nỗi niềm đó bao trùm lên cảnh vật. Bởi vậy mà cảnh vật hiên lên:
Cành cây sương đượm, tiếng trùng mưa phun.
ð Nghe rõ tiếng sương đọng, tiếng côn trùng kêu trong đêm mưa rả rích => Bức tranh thiên nhiên nhuốm màu tâm trạng: Hình ảnh và âm thanh thê lương, nặng trĩu nỗi buồn.
ð Giọng điệu: Vẫn là âm hưởng buồn da diết nhưng dần chuyển hẳn sang độc thoại nội tâm, trực tiếp bày tỏ nỗi nhớ nhung, khát vọng hạnh phúc.
ð Những cung bậc tâm trạng: Cô đơn, lẻ loi => mong ngóng, đợi chờ => buồn rầu, bi thiết => lơ sợ, dự cảm tương lai => nhớ da diết => khao khát hạnh phúc.
ð Cung bậc, sắc thái đan xen nhau, bó bện và giằng xé tâm can người chinh phụ. Tình yêu, sự chung thủy và nỗi nhớ là khởi nguồn của mọi cung bậc đó.
III.           Tổng kết.
1.     Giá trị nội dung.
-         Miêu tả thành công những cung bậc cảm xúc khác nhau của người chinh phụ trong tình cảnh cô đơn, lẻ loi, chờ đợi tin chồng.
-         Gửi gắm tiếng nói phản kháng, tố cáo chiến tranh phong kiến phi nghĩa cướp đi hạnh phúc con người, qua đó lên tiếng đòi quyền hạnh phúc cho co người, đặc biệt người phụ nữ => Giá trị nhân văn, nhân đạo của tác phẩm.
Mở rộng:
Liên hệ, so sánh với những cuộc chi ly trong văn học cách mạng 45 – 75, nhằm làm sáng tỏ hơn giá trị nhân đạo của đoạn trích, tác phẩm.
2.     Giá trị nghệ thuật.
-         Thể loại: Ngâm khúc kết hợp hình thức thơ song thất lục bát tạo nên âm điệu, nhịp điệu thiết tha phù hợp với giãi bày tâm trạng, cảm xúc.
-         Bút pháp trữ tình kết hợp tự sự hài hòa.
-         Ngôn ngữ thơ trong sáng, giản dị mà đi vào lòng người.
-         Sử dụng thành công nhiều biện pháp tu từ, đặc biệt là so sánh, khắc họa rõ nét tâm trạng nhân vật trữ tình.

3.     Củng cố, dặn dò.
GV dặn dò học sinh học thuộc đoạn trích và soạn bài tiếp theo.





3 nhận xét:

  1. xin chào bạn, mình cũng đang soạn giáo án để chuẩn bị thực tập sư phạm, đọc bài chia sẻ giáo án của bạn Mai, mình thấy bài soạn của mình quá sơ sài! Bạn có thể chia sẻ cảm giác khi đứng lớp với khi giảng bài này thế nào không bạn

    Trả lờiXóa
  2. xin chào bạn, mình cũng đang soạn giáo án để chuẩn bị thực tập sư phạm, đọc bài chia sẻ giáo án của bạn Mai, mình thấy bài soạn của mình quá sơ sài! Bạn có thể chia sẻ cảm giác khi đứng lớp với khi giảng bài này thế nào không bạn

    Trả lờiXóa