Đề tài: Các hành vi ngôn ngữ của người kể chuyện
trong truyện ngắn Không có vua – Nguyễn
Huy Thiệp.
BÀI LÀM
I.
Tìm hiểu chung về truyện ngắn Không có vua – Nguyễn Huy Thiệp.
Không
có vua đề cập đến sinh hoạt, lối sống
của một gia đình với các thành viên có hoàn cảnh, nghề nghiệp khác nhau. Mỗi
nhân vật, mỗi người một vẻ, được Nguyễn Huy Thiệp vẽ lên bằng bức tranh siêu thực
vừa hài hước, vừa thực tế đến lạnh lùng về bức tranh gia đình đặc trưng - mô
hình thu nhỏ của thứ trật tự xã hội thiếu sự gắn kết, chỉ “bằng mặt mà không bằng
lòng”, cùng với sự ganh ghét, đố kị, lòng vị kỉ to lớn của từng cá nhân. Không
một ông “vua” nào có đủ thẩm quyền chế ngự lòng ham muốn vô độ và thói ích kỷ
cay nghiệt của các thành viên – dù là máu mủ, ruột rà trong một gia đình.
Truyện có 7 nhân vật chính, cũng là 7
thành viên của gia đình “không có vua”: lão Kiền, năm anh con trai của lão: Cấn,
Đoài, Khiêm, Khảm, Tốn và con dâu Sinh – vợ Cấn. Lão Kiền góa vợ, làm nghề sửa
xe đạp. Cấn làm thợ cắt tóc. Đoài làm công chức ở ngành giáo dục. Khiêm làm
nhân viên lò mổ trong công ty thực phẩm. Khảm là sinh viên đại học. Tốn bị bệnh
thần kinh, người teo tóp, dị dạng. Sinh về làm dâu được mấy năm.
Truyện được chia làm 7 màn cảnh, mỗi màn
cảnh được đặt tên cụ thể, ứng với thời gian xảy ra câu chuyện được kể: Gia cảnh,
Buổi sáng, Ngày giỗ, Buổi chiều, Buổi tối, Ngày Tết, Ngày thường.
Truyện kể theo ngôi thứ 3, điểm nhìn bên
ngoài, gần như khách quan tuyệt đối, kiểu người kể chuyện ẩn mình, không đáng
tin cậy – kiểu người kể chuyện tiêu biểu, phổ biến trong tác phẩm của Nguyễn
Huy Thiệp.
II.
Khảo sát và phân tích các hành vi ngôn ngữ của người kể
chuyện trong truyện ngắn Không
có vua – Nguyễn Huy Thiệp.
1.
Hành vi kể
Không
có vua là một tác phẩm tự sự nên kể
là hành vi chủ yếu và chiếm số lượng lớn
trong các hành vi ngôn ngữ của người kể chuyện. Để làm rõ hơn điều này, chúng
tôi tiến hành khảo sát trên từng màn cảnh của truyện.
Do giới hạn bài viết, dưới đây chúng tôi
chỉ xin phân tích cụ thể hai màn cảnh đầu tiên trong truyện.
|
Màn cảnh 1 “Gia cảnh”.
|
Màn cảnh 2
“Buổi sáng”
|
|
1.
Block 1. Cô
Sinh về làm dâu, mang theo “một đống tiền”.
2.
Block 2. Cậu Cấn
là thương binh.
-
Hai người quen
biết trong cảnh...
-
Theo đồn đại, đấy
là một “xen”...
3.
Block 3. Cấn là
con trưởng.
-
Đoài là...
-
Khiêm là...
-
Khảm là...
-
Tốn là...
4.
Block 4. Nhà
lão Kiền sáu người, vợ mất sớm, lão ở vậy.
5.
Block 5. Nhà
lão Kiền trông ra mặt đường.
-
Lão Kiền làm...
-
Cấn làm...
-
Sinh là người...
6.
Block 6. Về làm
dâu, lúc đầu Sinh ngỡ ngàng...
-
Tốn hay giúp đỡ
Sinh...
7.
Block 7. Trong
nhà Sinh hãi nhất lão Kiền.
-
Lão Kiền suốt
ngày cau có...
-
Với Đoài, lão bảo...
-
Với Khảm, lão bảo...
-
Với Cấn, lão đỡ
hơn...
-
Với Khiêm,...
8.
Block 8. Khiêm
to lớn, lừng lững, nóng nảy.
-
Khiêm mang lòng
về...
-
Đoài hay nói
sau lưng...
9.
Block 9. Khiêm
khinh hai anh...
-
Với Cấn...
-
Cấn nhăn nhó...
-
Khiêm bảo...
-
Sinh bảo...
-
Cấn bảo...
-
Với Đoài...
-
Đoài bảo...
-
Khiêm hỏi...
-
Đoài bảo...
-
Khiêm tức...
10.
Block 10. Sinh lọt vào gia đình như mưa rơi
xuống đất nẻ.
-
Lão Kiền...
-
Cấn hạnh phúc
nhất..
-
Cấn nâng giá...
-
Đoài thấy...
-
Khiêm vẫn...
-
Sinh bảo chồng...
-
Cấn cười...
|
1.
Block 1. 1 giờ
sáng, Khiêm dậy đi làm.
-
Tốn ra khóa cửa.
-
Đoài mất ngủ,
càu nhàu...
2.
Block 2. 3 giờ
sáng, lão Kiền dậy pha nước chè, bị điện giật, chửi.
-
Đoài nói vọng
ra: ...
-
Lão Kiền chửi...
-
Đoài cười...
-
Lão Kiền lẩm bẩm...
-
Đoài bảo...
-
Lão Kiền bảo...
-
Khảm rên rỉ...
-
Đoài bảo...
3.
Block 3. 4 giờ
30 sáng, Sinh dậy nấu cơm
-
Cấn nhặt rau.
-
Khảm bảo:...
-
Sinh bảo:...
-
Khảm bảo:...
-
Đoài bảo:...
4.
Block 4. Lão Kiền
mở cửa hàng.
-
Bà bán xôi mời..
-
Lão Kiền xua
tay...
-
Bà bán xôi bảo...
-
Cấn mài dao,
nói...
5.
Block 5. Cơm dọn
ra.
-
Khảm xới cơm.
-
Sinh bảo...
-
Khảm bảo...
-
Đoài bảo...
-
Khảm bảo...
-
Đoài bảo...
-
Lão Kiền bảo...
-
Khảm cười...
-
Lão Kiền hỏi...
-
Đoài ăn xong, đứng
lên...
-
Cấn cười tủm tỉm...
-
Đoài bâng
quơ...
-
Sinh cài khuy
áo...
6.
Block 6. Ăn
xong.
-
Sinh dọn mâm
bát.
-
Lão Kiền ngồi uống
nước.
-
Khảm chuẩn bị
đi học.
-
Khảm bảo...
-
Cấn bảo...
-
Khảm bảo...
-
Lão Kiền bảo...
-
Khảm nhăn
nhó...
-
Lão Kiền làm việc.
-
Khảm xúc trộm gạo.
7.
Block 7. Sinh cất
dọn dưới bếp.
-
Đoài đi theo, lấy
cơm.
-
Đoài chạm tay
vào lưng Sinh.
-
Đoài bảo...
-
Sinh lùi lại...
-
Đoài bảo...
8.
Block 8. Tốn
xách nước, lau sàn, hát.
-
Khách đến cắt
tóc: Cấn hỏi, Khách hỏi.
-
Đoài đi làm.
-
Đoài bảo Cấn...
-
Cấn bảo:...
|
Nhận xét:
Màn
cảnh 1: 10 block, 53 hành vi (vật lí
và ngôn ngữ), 7 nhân vật.
Màn
cảnh 2: 8 block sự kiện, 64 hành vi
(vật lí và ngôn ngữ), 9 nhân vật. Như vậy, có tất cả 18 block, 117 hành vi trên
8 trang viết – một số lượng không hề nhỏ. Người kể chuyện liên tiếp tung ra những
sự kiện theo lối liệt kê, thông tin nén ép. Trong truyện, các màn cảnh khác
cũng như vậy, liên tiếp là các block sự kiện và hành vi.
Người kể chuyện trong
truyện ngắn vận dụng tối đa hành vi kể, khiến câu chuyện được kể theo hướng liệt
kê là chủ yếu, không dừng lại để nhận xét, bình giá, bình luận. Điều này tạo
nên sự khách quan rất cao và tăng độ tin cậy cho câu chuyện, biến người kể chuyện
trở thành một kẻ đứng ngoài câu chuyện, chỉ chứng kiến và kể lại, không hề biết
gì về những người mình kể.
Hành vi kể chiếm vai trò chủ đạo giúp nhận
diện vai trò của người kể chuyện trong tác phẩm: kể chuyện đơn thuần; thể hiện
tính khách quan của hiện thực được kể, phơi bày hiện thực như nó vẫn có, thể hiện
điểm nhìn bên ngoài của người kể chuyện.
2.
Hành vi tả
Trái với hành vi kể là hành vi chủ yếu,
xuất hiện dày đặc, hành vi tả cùng với hành vi bình luận xuất hiện rất ít, chiếm
một tỉ lệ không đáng kể. Nếu có thì cũng là những lời rất chung chung, thực chất
giống như liệt kê nhiều hơn. Trong bài viết này, chúng tôi khảo sát và chỉ ra sự
xuất hiện của hành vi tả trên hai phương diện tả cảnh và tả người. Dưới đây là
bảng thống kê cụ thể:
|
Phần
|
Câu văn có hành vi tả
|
|
Gia cảnh
|
-
Theo đồn đại,
đó là một “xen” (scène) về tình yêu giản dị, trong sáng, không vụ lợi, cuộc sống
là duy vật biện chứng, hài hòa, đẹp, đáng yêu...
-
...Tốn là con
út, bị bệnh thần kinh, người teo tóp, dị dạng.
-
Tốn ít nói,...,
chỉ cười bẽn lẽn..
-
Khiêm to lớn, lừng
lững, tính nóng nảy.
-
Cấn vuốt ve
thân hình mềm mại của vợ...
|
|
Buổi sáng
|
-
Cấn lúi húi nhặt
rau.
|
|
Ngày giỗ
|
-
Lão Kiền mặc bộ
quần áo bảo hộ lao động...đầu chải nước lã rất mượt...
-
Đang ăn, Khiêm
đi làm về, lầm lầm lì lì chẳng chào ai.
|
|
Buổi chiều
|
-
Cả hai trông
như hai thằng móc dưới cống lên, nhếch nhác, bẩn thỉu.
|
|
Ngày Tết
|
-
Về nhà vật ra
ngủ liền, thế mà mắt cứ lõm sâu vào, vằn tia máu đỏ.
-
Sinh thoa tí
son, mặc quần côn, áo len dài bên trong, bên ngoài khoác áo len cộc đan kiểu
gile, không gài khuy, cổ choàng một chiếc voan mỏng màu hoàng yến, trông khác
hẳn ngày thường vẫn mặc bộ đồ trong nhà.
-
Cả ba nét mặt rạng
rỡ.
|
|
Buổi tối
|
-
Không khí trong
nhà u ám, ai cũng buồn rầu.
-
Đến 4h sáng hôm
sau, lão Kiền tắt thở, trên môi thấp thoáng nụ cười, trông rất hiền lành,
trung hậu.
|
|
Ngày thường
|
-
Sinh đẹp lộng lẫy.
-
Tốn mỉm cười
ngô nghê nhắc lại.
|
Nhận
xét:
Như vậy, trong tổng số 28 trang truyện,
có chưa đầy một trang chứa những lời văn miêu tả của người kể chuyện. Trong số
những lời văn miêu tả thống kê trong bảng trên, phần lớn là tả người, không có
tả cảnh. Có thể nói, không gian trong truyện chỉ có tên gọi, không được miêu tả.
Miêu tả nhân vật chung chung, không cụ
thể, không lột tả những nét riêng. Với cách miêu tả Khiêm: “to lớn, lừng lững, nóng nảy” người đọc
chỉ biết nhân viên lò mổ to lớn, không biết to lớn như thế nào hoặc nóng nảy ra
sao. Hoặc câu văn miêu tả Sinh “đẹp lộng lẫy”, người kể chuyện chỉ dừng lại ở
tính từ đó, để người đọc tự hình dung sự lộng lẫy của Sinh mà không nói gì
thêm.
Khi miêu tả ngoại hình nhân vật, người kể
chuyện không tạt ngang so sánh, liên tưởng như trong truyện kể theo điểm nhìn bên trong. Lời văn miêu tả ngoại hình dường
như được khách quan hóa tuyệt đối.
Gần như người kể chuyện không miêu tả nội
tâm, tâm trạng, tình cảm của nhân vật. Trong số các lời văn miêu tả thống kê được,
chỉ có ba lời văn miêu tả tâm trạng, tình cảm nhân vật: “Tốn ít nói,..., chỉ cười bẽn lẽn”´; “Không khí trong nhà u ám, ai cũng buồn rầu” ; “Cả ba nét mặt rạng rỡ.” . Có thể
nhận thấy, đây chỉ là những miêu tả hết sức đơn giản, khách quan, thậm chí “hời
hợt” về tâm trạng nhân vật của người kể chuyện.
Ngoài ra, có thể nhận thấy rõ ràng, hành
vi tả tâm trạng đồng thời là hành vi kể, trần thuật sự kiện, theo điểm nhìn bên
ngoài tuyệt đối của người kể chuyện. Các câu văn đã kể trên cũng có chức năng kể
sự kiện (thậm chí là chức năng chính).
Như vậy, hành vi ngôn ngữ miêu tả của
người kể chuyện trong tác phẩm thiên về kể nhiều hơn, dù là tả diện mạo hay tâm
trạng nhân vật (không có tả cảnh). Điều này tạo nên tính khách quan tuyệt đối của
điểm nhìn bên ngoài.
3.
Hành vi bình
luận.
Hành vi bình luận của người kể chuyện trong Không có vua hay truyện ngắn Nguyễn Huy
Thiệp nói chung rất hiếm gặp. Nó chỉ xuất hiện kín đáo, hàm ẩn đằng sau một số
chi tiết.
Mặc dù lời kể mang tính chất miêu tả nhiều hơn, song
ít nhiều người đọc vẫn cảm nhận được sự bình luận mang tính chủ quan xen lẫn
trong sự dẫn dắt mạch truyện. Người kể chuyện đã khéo léo lồng vào đoạn văn những
lời miêu tả thể hiện thái độ và những dụng ý trong hành động của nhân vật.
Qua khảo sát toàn bộ văn bản, chúng tôi chia những chi
tiết chứa hành vi ngôn ngữ bình luận của người kể chuyện làm ba loại: Những sự
kiện có tính chất bất thường, nghịch lí; Trong lời kể có một điểm nhấn, mang sắc
thái biểu cảm; Lời thoại nhân vật. Dưới đây là bảng thống kê cụ thể:
|
Kiểu chi tiết
|
Câu văn có
hành vi bình luận
|
|
Những sự kiện có tính chất bất thường, nghịch lí
|
+ Đoài đang chặt thịt gà, tay đầy mỡ, cứ để thế không
rửa tay, chạy lại bàn thờ vái lia lịa.
Đoài bảo: “Lạy mẹ, mẹ phù hộ cho con đi học nước ngoài, kiếm cái xe Cub.” (Giỗ
mẹ)
+ Suốt đêm Khiêm ngồi đọc, lạc cả giọng.
|
|
Trong lời kể có một
điểm nhấn,
mang sắc thái
biểu cảm.
|
-
Đoài hay nói (cũng là nói sau lưng Khiêm): “Trước hay sau cũng vào tù thôi...”
-
Khảm dắt xe ra
cửa, nghĩ thế nào lại ôm cặp vào nhà. Khảm mở cửa buồng, trông trước trông
sau không thấy ai, mở thùng gạo xúc ra bò rưỡi gạo vào cặp rồi lẻn ra ngoài.
-
Trước khi đi,
Khảm rút vội mấy điều thuốc lá trên
bàn cho vào túi áo.
|
|
Lời thoại
nhân vật.
|
-
Đoài bảo: “Phải rồi, một miếng vá xăm đáng một chục
nhưng tương lên ba chục thì có đức đấy”.
-
Đoài bảo: “Triết học là thứ xa xỉ của bọn mọt sách.
Chú có thấy cái chuỗi hạt nhựa đeo cổ của chị Sinh không, nó là triết học đấy.”
-
Đoài bảo: “...Nói không phải, cái nghề đồ tể của nó giá
trị gấp mười lần cái bằng đại học của tao với mày”.
-
Lão Kiền bảo: “Quân trí thức bây giờ toàn phường phàm phu
tục tử”.
-
Cấn lấy bút chì
ghi tiền làm được hằng ngày vào một cuốn sổ,...chẳng biết là kí hiệu gì. Đoài
bảo: “Sổ sách kế toán của ông này thật
như gián điệp”.
-
Thấm thoắt đến
Tết. Rằm tháng Chạp ... Khảm bảo: “ Bố
chỉ quý con dâu, con út”.
-
Lão Kiền bảo: “Bây giờ mày như đào kép diễn trên tivi”.
-
Tốn hỏi: “Tiền là gì?”. Khiêm bảo: “Là vua”.
-
Đoài bảo: “Tôi nghĩ bố già rồi, mổ cũng thế, cứ để chết
là hơn”. Tốn khóc hu hu. ... Đoài bảo: “Mất thì giờ bỏ mẹ. Ai đồng ý bố chết giơ tay, tôi biểu quyết nhé”.
... Đoài bảo: “Ông cụ đi rồi, thật may
quá, bây giờ tôi đi mua quan tài”.
-
Khảm bảo: “Lão Cấn tham lắm, anh em mình rồi ra đường
thôi”.
-
Đoài bảo: “Cứ gác lại đã. Các bác già chết đi có gì
là lạ? Tiếp tục cuộc vui đi. Nào, xin mời các chư tướng”.
|
Nhận xét:
Về Những
sự kiện có tính chất bất thường, nghịch lí, chỉ bằng một vài từ “tay đầy mỡ, vái lia lịa”, người kể chuyện
đã thể hiện được tính cách con người Đoài: Bất hiếu, thực dụng. Hay Khiêm, bố ốm,
đọc kinh đến “lạc cả giọng”, một chi
tiết nhỏ nhưng đủ để độc giả nhận ra đứa con có hiếu, biết nghĩ đến lão Kiền nhất
nhà.
Về Trong
lời kể có một điểm nhấn, mang sắc thái biểu cảm, với Đoài “hay nói” nhưng toàn là “nói sau lưng” – con người tiểu nhân, nhỏ
nhen, vẫn ăn đồ Khiêm mang về nhưng lại liên tục nói xấu Khiêm. Với Khảm, bằng
hai từ “lẻn” và “rút vội” – điểm nhấn của lời kể, mang sắc thái biểu cảm cao, bộc lộ
con người xảo trá, tham lam, ranh ma.
Về Lời
thoại nhân vật, có thể nhận thấy Đoài là nhân vật có tần số lời thoại bộc lộ
con người nhiều nhất. Những lời thoại đó cho thấy Đoài là một kẻ quá thực dụng,
thực dụng đến mức mất hết cả tình người, tính người. Đoài không muốn chữa bệnh
cho bố vì sợ tốn kém, bố chết lại thấy mừng... Người kể chuyện chỉ thuật tả
hành động của nhân vật bằng những câu văn gắn gọn và nhiều chi tiết nhưng cách
miêu tả của người kể đã giúp người đọc nhận thấy thái độ cố ý và sự trơ trẽn
trong lối hành xử của nhân vật. Một lần nữa, bản chất đểu giả, vô luân của Đoài lại bị phơi trần. Không những thế, anh
ta còn là một kẻ đầy thủ đoạn, sẵn sàng làm mọi thứ để đạt được mục đích của
mình. Hành động trao đổi, ngã giá cho một cuộc hôn nhân trong tương lai giữa Đoài và Khảm đã cho thấy điều
đó. Thái độ trần thuật khách quan, lạnh lùng và tỉ mỉ của người kể chuyện
đã giúp phơi bày sâu sắc bản chất xấu xa trong nhân cách của các nhân vật. Cả
hai đều là những trí thức có học vấn cao trong gia đình cũng như ngoài xã hội,
nhưng lại là những kẻ sống toan tính, ích kỷ và đầy đố kỵ.
Người kể chuyện khéo léo để các nhân vật
tự bộc lộ, khéo léo thể hiện thái độ bình luận của mình thông qua những chi tiết
rất nhỏ, nếu không tinh tế người đọc khó lòng nhận ra. Nhân vật chủ yếu vẫn tự
bộc lộ bản chất qua hành động và lời nói. Một lần nữa, tính khách quan của câu
chuyện lại được nâng cao.
4.
Hành vi tổ chức,
sắp xếp sự kiện.
Hành vi ngôn ngữ không thể thiếu của người
kể chuyện trong tác phẩm tự sự là tố chức, sắp xếp sự kiện. Có thể nói, người đứng
sau tất cả là nhà văn, hành vi tạo lời, mượn lời hay ở lời cũng là của anh ta,
song người kể chuyện là người “trực tiếp” thực hiện những hành vi đó. Việc kể
câu chuyện như thế nào nằm trong quyết định của người kể chuyện.
Với Không
có vua, truyện được phân thành 7 màn cảnh, mỗi màn cảnh có một tên gọi ngắn
gọn, chỉ thời gian, bối cảnh diễn ra các sự kiện trong truyện. Cấu trúc chương
hồi cũng là một dạng cấu trúc tỉnh lược, cho phép rút ngắn tác phẩm, ít nhất là
những phần văn bản có tác dụng chuyển đoạn, chuyển cảnh...
Lời dẫn thoại trong truyện cũng rất ngắn
gọn, cơ bản được đóng khung trong cấu trúc: [C + Động từ nói năng], trực tiếp
chỉ hành vi nói năng, ít có yếu tố chỉ trạng thái, tình cảm. Trong tác phẩm, hầu
hết lời dẫn thoại là: C + bảo, ví dụ Đoài bảo, Cấn bảo, lão Kiền bảo...
Lời thoại được kể lại cũng ngắn, chủ yếu
là câu đơn, trần trụi, đơn giản, không hoa mỹ. Ví dụ: Tốn hỏi: “Tiền là gì?”. Khiêm bảo: “Là vua”. Đoài bảo: “...Nói không phải, cái nghề đồ tể của nó giá trị
gấp mười lần cái bằng đại học của tao với mày”.
III.
Kết luận.
Lối kể chuyện khách quan và ngôn ngữ trần
thuật lạnh lùng đó rất thích hợp cho việc bộc lộ thứ hiện thực đời sống bất thường
được khắc họa trong tác phẩm. Không có
vua là hình ảnh một gia đình rối ren, đạo lý cương thường bị đảo lộn, con
người sống theo bản năng và dục vọng thấp hèn. Một thế giới lộn sòng, cha không
ra cha, con không ra con, em khinh anh, anh bạc đãi em, chồng đánh đập vợ.
Nguyễn Huy Thiệp bộc lộ tài năng của
mình khi xậy dựng nhân vật người kể chuyện không đáng tin cậy với những hành vi
ngôn ngữ tiêu biểu. Không có vua được
ví như một thước phim cận cảnh, sự kiện hỗn độn, cõi đời ngổn ngang, con người
méo mó, nhếch nhác, đáng thương.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét