Thứ Ba, 1 tháng 4, 2014

Bài chuyên đề NGÔN NGỮ VÀ VĂN HỌC

Đề tài: Các hành vi ngôn ngữ của người kể chuyện trong truyện ngắn Không có vua – Nguyễn Huy Thiệp.

BÀI LÀM

I.                  Tìm hiểu chung về truyện ngắn Không có vua – Nguyễn Huy Thiệp.
Không có vua đề cập đến sinh hoạt, lối sống của một gia đình với các thành viên có hoàn cảnh, nghề nghiệp khác nhau. Mỗi nhân vật, mỗi người một vẻ, được Nguyễn Huy Thiệp vẽ lên bằng bức tranh siêu thực vừa hài hước, vừa thực tế đến lạnh lùng về bức tranh gia đình đặc trưng - mô hình thu nhỏ của thứ trật tự xã hội thiếu sự gắn kết, chỉ “bằng mặt mà không bằng lòng”, cùng với sự ganh ghét, đố kị, lòng vị kỉ to lớn của từng cá nhân. Không một ông “vua” nào có đủ thẩm quyền chế ngự lòng ham muốn vô độ và thói ích kỷ cay nghiệt của các thành viên – dù là máu mủ, ruột rà trong một gia đình.
Truyện có 7 nhân vật chính, cũng là 7 thành viên của gia đình “không có vua”: lão Kiền, năm anh con trai của lão: Cấn, Đoài, Khiêm, Khảm, Tốn và con dâu Sinh – vợ Cấn. Lão Kiền góa vợ, làm nghề sửa xe đạp. Cấn làm thợ cắt tóc. Đoài làm công chức ở ngành giáo dục. Khiêm làm nhân viên lò mổ trong công ty thực phẩm. Khảm là sinh viên đại học. Tốn bị bệnh thần kinh, người teo tóp, dị dạng. Sinh về làm dâu được mấy năm.
Truyện được chia làm 7 màn cảnh, mỗi màn cảnh được đặt tên cụ thể, ứng với thời gian xảy ra câu chuyện được kể: Gia cảnh, Buổi sáng, Ngày giỗ, Buổi chiều, Buổi tối, Ngày Tết, Ngày thường.
Truyện kể theo ngôi thứ 3, điểm nhìn bên ngoài, gần như khách quan tuyệt đối, kiểu người kể chuyện ẩn mình, không đáng tin cậy – kiểu người kể chuyện tiêu biểu, phổ biến trong tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp.
II.               Khảo sát và phân tích các hành vi ngôn ngữ của người kể chuyện trong truyện ngắn Không có vua – Nguyễn Huy Thiệp.
1.     Hành vi kể
Không có vua là một tác phẩm tự sự nên kể là hành vi chủ yếu và chiếm  số lượng lớn trong các hành vi ngôn ngữ của người kể chuyện. Để làm rõ hơn điều này, chúng tôi tiến hành khảo sát trên từng màn cảnh của truyện.
Do giới hạn bài viết, dưới đây chúng tôi chỉ xin phân tích cụ thể hai màn cảnh đầu tiên trong truyện.
Màn cảnh 1 “Gia cảnh”.
Màn cảnh 2 “Buổi sáng”
1.     Block 1. Cô Sinh về làm dâu, mang theo “một đống tiền”.
2.     Block 2. Cậu Cấn là thương binh.
-         Hai người quen biết trong cảnh...
-         Theo đồn đại, đấy là một “xen”...
3.     Block 3. Cấn là con trưởng.
-         Đoài là...
-         Khiêm là...
-         Khảm là...
-         Tốn là...
4.     Block 4. Nhà lão Kiền sáu người, vợ mất sớm, lão ở vậy.
5.     Block 5. Nhà lão Kiền trông ra mặt đường.
-         Lão Kiền làm...
-         Cấn làm...
-         Sinh là người...
6.     Block 6. Về làm dâu, lúc đầu Sinh ngỡ ngàng...
-         Tốn hay giúp đỡ Sinh...
7.     Block 7. Trong nhà Sinh hãi nhất lão Kiền.
-         Lão Kiền suốt ngày cau có...
-         Với Đoài, lão bảo...
-         Với Khảm, lão bảo...
-         Với Cấn, lão đỡ hơn...
-         Với Khiêm,...
8.     Block 8. Khiêm to lớn, lừng lững, nóng nảy.
-         Khiêm mang lòng về...
-         Đoài hay nói sau lưng...
9.     Block 9. Khiêm khinh hai anh...
-         Với Cấn...
-         Cấn nhăn nhó...
-         Khiêm bảo...
-         Sinh bảo...
-         Cấn bảo...
-         Với Đoài...
-         Đoài bảo...
-         Khiêm hỏi...
-         Đoài bảo...
-         Khiêm tức...
10.             Block 10. Sinh lọt vào gia đình như mưa rơi xuống đất nẻ.
-         Lão Kiền...
-         Cấn hạnh phúc nhất..
-         Cấn nâng giá...
-         Đoài thấy...
-         Khiêm vẫn...
-         Sinh bảo chồng...
-         Cấn cười...

1.     Block 1. 1 giờ sáng, Khiêm dậy đi làm.
-         Tốn ra khóa cửa.
-         Đoài mất ngủ, càu nhàu...
2.     Block 2. 3 giờ sáng, lão Kiền dậy pha nước chè, bị điện giật, chửi.
-         Đoài nói vọng ra: ...
-         Lão Kiền chửi...
-         Đoài cười...
-         Lão Kiền lẩm bẩm...
-         Đoài bảo...
-         Lão Kiền bảo...
-         Khảm rên rỉ...
-         Đoài bảo...
3.     Block 3. 4 giờ 30 sáng, Sinh dậy nấu cơm
-         Cấn nhặt rau.
-         Khảm bảo:...
-         Sinh bảo:...
-         Khảm bảo:...
-         Đoài bảo:...
4.     Block 4. Lão Kiền mở cửa hàng.
-         Bà bán xôi mời..
-         Lão Kiền xua tay...
-         Bà bán xôi bảo...
-         Cấn mài dao, nói...
5.     Block 5. Cơm dọn ra.
-         Khảm xới cơm.
-         Sinh bảo...
-         Khảm bảo...
-         Đoài bảo...
-         Khảm bảo...
-         Đoài bảo...
-         Lão Kiền bảo...
-         Khảm cười...
-         Lão Kiền hỏi...
-         Đoài ăn xong, đứng lên...
-         Cấn cười tủm tỉm...
-         Đoài bâng quơ...
-         Sinh cài khuy áo...
6.     Block 6. Ăn xong.
-         Sinh dọn mâm bát.
-         Lão Kiền ngồi uống nước.
-         Khảm chuẩn bị đi học.
-         Khảm bảo...
-         Cấn bảo...
-         Khảm bảo...
-         Lão Kiền bảo...
-         Khảm nhăn nhó...
-         Lão Kiền làm việc.
-         Khảm xúc trộm gạo.
7.     Block 7. Sinh cất dọn dưới bếp.
-         Đoài đi theo, lấy cơm.
-         Đoài chạm tay vào lưng Sinh.
-         Đoài bảo...
-         Sinh lùi lại...
-         Đoài bảo...
8.     Block 8. Tốn xách nước, lau sàn, hát.
-         Khách đến cắt tóc: Cấn hỏi, Khách hỏi.
-         Đoài đi làm.
-         Đoài bảo Cấn...
-         Cấn bảo:...


Nhận xét:
Màn cảnh 1: 10 block, 53 hành vi (vật lí và ngôn ngữ), 7 nhân vật.
Màn cảnh 2: 8 block sự kiện, 64 hành vi (vật lí và ngôn ngữ), 9 nhân vật. Như vậy, có tất cả 18 block, 117 hành vi trên 8 trang viết – một số lượng không hề nhỏ. Người kể chuyện liên tiếp tung ra những sự kiện theo lối liệt kê, thông tin nén ép. Trong truyện, các màn cảnh khác cũng như vậy, liên tiếp là các block sự kiện và hành vi.
Người kể chuyện trong truyện ngắn vận dụng tối đa hành vi kể, khiến câu chuyện được kể theo hướng liệt kê là chủ yếu, không dừng lại để nhận xét, bình giá, bình luận. Điều này tạo nên sự khách quan rất cao và tăng độ tin cậy cho câu chuyện, biến người kể chuyện trở thành một kẻ đứng ngoài câu chuyện, chỉ chứng kiến và kể lại, không hề biết gì về những người mình kể.
Hành vi kể chiếm vai trò chủ đạo giúp nhận diện vai trò của người kể chuyện trong tác phẩm: kể chuyện đơn thuần; thể hiện tính khách quan của hiện thực được kể, phơi bày hiện thực như nó vẫn có, thể hiện điểm nhìn bên ngoài của người kể chuyện.
2.     Hành vi tả
Trái với hành vi kể là hành vi chủ yếu, xuất hiện dày đặc, hành vi tả cùng với hành vi bình luận xuất hiện rất ít, chiếm một tỉ lệ không đáng kể. Nếu có thì cũng là những lời rất chung chung, thực chất giống như liệt kê nhiều hơn. Trong bài viết này, chúng tôi khảo sát và chỉ ra sự xuất hiện của hành vi tả trên hai phương diện tả cảnh và tả người. Dưới đây là bảng thống kê cụ thể:
Phần
Câu văn có hành vi tả
Gia cảnh
-         Theo đồn đại, đó là một “xen” (scène) về tình yêu giản dị, trong sáng, không vụ lợi, cuộc sống là duy vật biện chứng, hài hòa, đẹp, đáng yêu...
-         ...Tốn là con út, bị bệnh thần kinh, người teo tóp, dị dạng.
-         Tốn ít nói,..., chỉ cười bẽn lẽn..
-         Khiêm to lớn, lừng lững, tính nóng nảy.
-         Cấn vuốt ve thân hình mềm mại của vợ...
Buổi sáng
-         Cấn lúi húi nhặt rau.
Ngày giỗ
-         Lão Kiền mặc bộ quần áo bảo hộ lao động...đầu chải nước lã rất mượt...
-         Đang ăn, Khiêm đi làm về, lầm lầm lì lì chẳng chào ai.
Buổi chiều
-         Cả hai trông như hai thằng móc dưới cống lên, nhếch nhác, bẩn thỉu.
Ngày Tết
-         Về nhà vật ra ngủ liền, thế mà mắt cứ lõm sâu vào, vằn tia máu đỏ.
-         Sinh thoa tí son, mặc quần côn, áo len dài bên trong, bên ngoài khoác áo len cộc đan kiểu gile, không gài khuy, cổ choàng một chiếc voan mỏng màu hoàng yến, trông khác hẳn ngày thường vẫn mặc bộ đồ trong nhà.
-         Cả ba nét mặt rạng rỡ.
Buổi tối
-         Không khí trong nhà u ám, ai cũng buồn rầu.
-         Đến 4h sáng hôm sau, lão Kiền tắt thở, trên môi thấp thoáng nụ cười, trông rất hiền lành, trung hậu.
Ngày thường
-         Sinh đẹp lộng lẫy.
-         Tốn mỉm cười ngô nghê nhắc lại.

Nhận xét:
Như vậy, trong tổng số 28 trang truyện, có chưa đầy một trang chứa những lời văn miêu tả của người kể chuyện. Trong số những lời văn miêu tả thống kê trong bảng trên, phần lớn là tả người, không có tả cảnh. Có thể nói, không gian trong truyện chỉ có tên gọi, không được miêu tả.
Miêu tả nhân vật chung chung, không cụ thể, không lột tả những nét riêng. Với cách miêu tả Khiêm: “to lớn, lừng lững, nóng nảy” người đọc chỉ biết nhân viên lò mổ to lớn, không biết to lớn như thế nào hoặc nóng nảy ra sao. Hoặc câu văn miêu tả Sinh “đẹp lộng lẫy”, người kể chuyện chỉ dừng lại ở tính từ đó, để người đọc tự hình dung sự lộng lẫy của Sinh mà không nói gì thêm.
Khi miêu tả ngoại hình nhân vật, người kể chuyện không tạt ngang so sánh, liên tưởng như trong truyện kể theo điểm  nhìn bên trong. Lời văn miêu tả ngoại hình dường như được khách quan hóa tuyệt đối.
Gần như người kể chuyện không miêu tả nội tâm, tâm trạng, tình cảm của nhân vật. Trong số các lời văn miêu tả thống kê được, chỉ có ba lời văn miêu tả tâm trạng, tình cảm nhân vật: “Tốn ít nói,..., chỉ cười bẽn lẽn”´;Không khí trong nhà u ám, ai cũng buồn rầu” ; “Cả ba nét mặt rạng rỡ.” . Có thể nhận thấy, đây chỉ là những miêu tả hết sức đơn giản, khách quan, thậm chí “hời hợt” về tâm trạng nhân vật của người kể chuyện.
Ngoài ra, có thể nhận thấy rõ ràng, hành vi tả tâm trạng đồng thời là hành vi kể, trần thuật sự kiện, theo điểm nhìn bên ngoài tuyệt đối của người kể chuyện. Các câu văn đã kể trên cũng có chức năng kể sự kiện (thậm chí là chức năng chính).
Như vậy, hành vi ngôn ngữ miêu tả của người kể chuyện trong tác phẩm thiên về kể nhiều hơn, dù là tả diện mạo hay tâm trạng nhân vật (không có tả cảnh). Điều này tạo nên tính khách quan tuyệt đối của điểm nhìn bên ngoài.
3.     Hành vi bình luận.

Hành vi bình luận của người kể chuyện trong Không có vua hay truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp nói chung rất hiếm gặp. Nó chỉ xuất hiện kín đáo, hàm ẩn đằng sau một số chi tiết.
Mặc dù lời kể mang tính chất miêu tả nhiều hơn, song ít nhiều người đọc vẫn cảm nhận được sự bình luận mang tính chủ quan xen lẫn trong sự dẫn dắt mạch truyện. Người kể chuyện đã khéo léo lồng vào đoạn văn những lời miêu tả thể hiện thái độ và những dụng ý trong hành động của nhân vật.
Qua khảo sát toàn bộ văn bản, chúng tôi chia những chi tiết chứa hành vi ngôn ngữ bình luận của người kể chuyện làm ba loại: Những sự kiện có tính chất bất thường, nghịch lí; Trong lời kể có một điểm nhấn, mang sắc thái biểu cảm; Lời thoại nhân vật. Dưới đây là bảng thống kê cụ thể:

Kiểu chi tiết
Câu văn có hành vi bình luận
Những sự kiện có tính chất bất thường, nghịch lí
+ Đoài đang chặt thịt gà, tay đầy mỡ, cứ để thế không rửa tay, chạy lại bàn thờ vái lia lịa. Đoài bảo: “Lạy mẹ, mẹ phù hộ cho con đi học nước ngoài, kiếm cái xe Cub.” (Giỗ mẹ)
+ Suốt đêm Khiêm ngồi đọc, lạc cả giọng.
Trong lời kể có một
điểm nhấn,
mang sắc thái
 biểu cảm.
-         Đoài hay nói (cũng là nói sau lưng Khiêm): “Trước hay sau cũng vào tù thôi...”
-         Khảm dắt xe ra cửa, nghĩ thế nào lại ôm cặp vào nhà. Khảm mở cửa buồng, trông trước trông sau không thấy ai, mở thùng gạo xúc ra bò rưỡi gạo vào cặp rồi lẻn ra ngoài.
-         Trước khi đi, Khảm rút vội mấy điều thuốc lá trên bàn cho vào túi áo.
Lời thoại
nhân vật.
-         Đoài bảo: “Phải rồi, một miếng vá xăm đáng một chục nhưng tương lên ba chục thì có đức đấy”.
-         Đoài bảo: “Triết học là thứ xa xỉ của bọn mọt sách. Chú có thấy cái chuỗi hạt nhựa đeo cổ của chị Sinh không, nó là triết học đấy.”
-         Đoài bảo: “...Nói không phải, cái nghề đồ tể của nó giá trị gấp mười lần cái bằng đại học của tao với mày”.
-         Lão Kiền bảo: “Quân trí thức bây giờ toàn phường phàm phu tục tử”.
-         Cấn lấy bút chì ghi tiền làm được hằng ngày vào một cuốn sổ,...chẳng biết là kí hiệu gì. Đoài bảo: “Sổ sách kế toán của ông này thật như gián điệp”.
-         Thấm thoắt đến Tết. Rằm tháng Chạp ... Khảm bảo: “ Bố chỉ quý con dâu, con út”.
-         Lão Kiền bảo: “Bây giờ mày như đào kép diễn trên tivi”.
-         Tốn hỏi: “Tiền là gì?”. Khiêm bảo: “Là vua”.
-         Đoài bảo: “Tôi nghĩ bố già rồi, mổ cũng thế, cứ để chết là hơn”. Tốn khóc hu hu. ... Đoài bảo: “Mất thì giờ bỏ mẹ. Ai đồng ý bố chết giơ tay, tôi biểu quyết nhé”. ... Đoài bảo: “Ông cụ đi rồi, thật may quá, bây giờ tôi đi mua quan tài”.
-         Khảm bảo: “Lão Cấn tham lắm, anh em mình rồi ra đường thôi”.
-         Đoài bảo: “Cứ gác lại đã. Các bác già chết đi có gì là lạ? Tiếp tục cuộc vui đi. Nào, xin mời các chư tướng”.

Nhận xét:
Về Những sự kiện có tính chất bất thường, nghịch lí, chỉ bằng một vài từ “tay đầy mỡ, vái lia lịa”, người kể chuyện đã thể hiện được tính cách con người Đoài: Bất hiếu, thực dụng. Hay Khiêm, bố ốm, đọc kinh đến “lạc cả giọng”, một chi tiết nhỏ nhưng đủ để độc giả nhận ra đứa con có hiếu, biết nghĩ đến lão Kiền nhất nhà.
Về Trong lời kể có một điểm nhấn, mang sắc thái biểu cảm, với Đoài “hay nói” nhưng toàn là “nói sau lưng” – con người tiểu nhân, nhỏ nhen, vẫn ăn đồ Khiêm mang về nhưng lại liên tục nói xấu Khiêm. Với Khảm, bằng hai từ “lẻn” và “rút vội” – điểm nhấn của lời kể, mang sắc thái biểu cảm cao, bộc lộ con người xảo trá, tham lam, ranh ma.
Về Lời thoại nhân vật, có thể nhận thấy Đoài là nhân vật có tần số lời thoại bộc lộ con người nhiều nhất. Những lời thoại đó cho thấy Đoài là một kẻ quá thực dụng, thực dụng đến mức mất hết cả tình người, tính người. Đoài không muốn chữa bệnh cho bố vì sợ tốn kém, bố chết lại thấy mừng... Người kể chuyện chỉ thuật tả hành động của nhân vật bằng những câu văn gắn gọn và nhiều chi tiết nhưng cách miêu tả của người kể đã giúp người đọc nhận thấy thái độ cố ý và sự trơ trẽn trong lối hành xử của nhân vật. Một lần nữa, bản chất  đểu giả, vô luân của  Đoài lại bị phơi trần. Không những thế, anh ta còn là một kẻ đầy thủ đoạn, sẵn sàng làm mọi thứ để đạt được mục đích của mình. Hành động trao đổi, ngã giá cho một cuộc hôn nhân trong tương lai giữa  Đoài và Khảm đã cho thấy  điều  đó. Thái độ trần thuật khách quan, lạnh lùng và tỉ mỉ của người kể chuyện đã giúp phơi bày sâu sắc bản chất xấu xa trong nhân cách của các nhân vật. Cả hai đều là những trí thức có học vấn cao trong gia đình cũng như ngoài xã hội, nhưng lại là những kẻ sống toan tính, ích kỷ và đầy đố kỵ.
Người kể chuyện khéo léo để các nhân vật tự bộc lộ, khéo léo thể hiện thái độ bình luận của mình thông qua những chi tiết rất nhỏ, nếu không tinh tế người đọc khó lòng nhận ra. Nhân vật chủ yếu vẫn tự bộc lộ bản chất qua hành động và lời nói. Một lần nữa, tính khách quan của câu chuyện lại được nâng cao.

4.     Hành vi tổ chức, sắp xếp sự kiện.
Hành vi ngôn ngữ không thể thiếu của người kể chuyện trong tác phẩm tự sự là tố chức, sắp xếp sự kiện. Có thể nói, người đứng sau tất cả là nhà văn, hành vi tạo lời, mượn lời hay ở lời cũng là của anh ta, song người kể chuyện là người “trực tiếp” thực hiện những hành vi đó. Việc kể câu chuyện như thế nào nằm trong quyết định của người kể chuyện.
Với Không có vua, truyện được phân thành 7 màn cảnh, mỗi màn cảnh có một tên gọi ngắn gọn, chỉ thời gian, bối cảnh diễn ra các sự kiện trong truyện. Cấu trúc chương hồi cũng là một dạng cấu trúc tỉnh lược, cho phép rút ngắn tác phẩm, ít nhất là những phần văn bản có tác dụng chuyển đoạn, chuyển cảnh...
Lời dẫn thoại trong truyện cũng rất ngắn gọn, cơ bản được đóng khung trong cấu trúc: [C + Động từ nói năng], trực tiếp chỉ hành vi nói năng, ít có yếu tố chỉ trạng thái, tình cảm. Trong tác phẩm, hầu hết lời dẫn thoại là: C + bảo, ví dụ Đoài bảo, Cấn bảo, lão Kiền bảo...
Lời thoại được kể lại cũng ngắn, chủ yếu là câu đơn, trần trụi, đơn giản, không hoa mỹ. Ví dụ: Tốn hỏi: “Tiền là gì?”. Khiêm bảo: “Là vua”. Đoài bảo: “...Nói không phải, cái nghề đồ tể của nó giá trị gấp mười lần cái bằng đại học của tao với mày”.

III.           Kết luận.
Lối kể chuyện khách quan và ngôn ngữ trần thuật lạnh lùng đó rất thích hợp cho việc bộc lộ thứ hiện thực đời sống bất thường được khắc họa trong tác phẩm. Không có vua là hình ảnh một gia đình rối ren, đạo lý cương thường bị đảo lộn, con người sống theo bản năng và dục vọng thấp hèn. Một thế giới lộn sòng, cha không ra cha, con không ra con, em khinh anh, anh bạc đãi em, chồng đánh đập vợ.

Nguyễn Huy Thiệp bộc lộ tài năng của mình khi xậy dựng nhân vật người kể chuyện không đáng tin cậy với những hành vi ngôn ngữ tiêu biểu. Không có vua được ví như một thước phim cận cảnh, sự kiện hỗn độn, cõi đời ngổn ngang, con người méo mó, nhếch nhác, đáng thương. 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét