Thứ Ba, 1 tháng 4, 2014

BÀI CHUYÊN ĐỀ THỂ LOẠI

BỐ CỤC BÀI LÀM
PHẦN I . MỞ ĐẦU.
PHẦN II. NỘI DUNG
Chương 1.
1.     Tự trào và cảm hứng tự trào trong văn học Việt Nam.
1.1   Khái niệm tự trào
1.2   Cảm hứng tự trào trong Văn học Việt Nam
Chương 2. Tự trào trong tản văn Nguyễn Quang Lập nhìn từ phương diện nội dung.
1.     Tự trào về một Nguyễn Quang Lập – đời thường.
2.     Tự trào về một Nguyễn Quang Lập – nhà văn.
Chương 3. Tự trào trong tản văn Nguyễn Quang Lập nhìn từ phương diện nghệ thuật.
1.     Nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ
1.1  Khẩu ngữ
1.1.1    Phương ngữ Quảng Bình
1.1.2    Từ ngữ thông tục
1.2  Kết hợp từ và câu văn đặc sắc
2.     Các thủ pháp tự trào
2.1  Nói trạng
2.2  Tạo giai thoại
PHẦN III. KẾT LUẬN


NỘI DUNG BÀI LÀM
PHẦN I. MỞ ĐẦU
Biết cười là biết sống. Lúc nhà văn tự nhìn lại mình, tự cười mình, tự phán xét mình là lúc mình tự do nhất. Để có được điều đó, mình phải sống thật, trước hết là thật với chính mình, biết tự vấn, biết cười mình rồi mới cười người, cười đời.” – nhà văn Trần Kim Trắc đã nói như vậy khi cho ra mắt cuốn “Tự cười” và “Nụ cười 307”. 
Người ta nói “Tiếng cười là vũ khí của kẻ mạnh”, kẻ mạnh ở đây, có lẽ trước hết ở chỗ dám tự cười mình, dám lấy mình làm đối tượng để mà châm biếm, chế giễu.
Đọc tản văn Nguyễn Quang Lập, ta không khó để có được tiếng cười, hay đúng hơn là rất khó để không cười. Lối hành văn hoạt khẩu, cách kể chuyện có duyên của Bọ mang đến độc giả những cung bậc cảm xúc khác nhau của sự hài hước. Tiếng cười trong tản văn Bọ Lập là tiếng cười đa giọng điệu, nhiều sắc thái. Trong đó không thể bỏ qua sắc thái tự trào.
Nguyễn Quang Lập tự trào từ những chuyện vặt. Nhưng khả năng phóng chiếu, châm biếm của nó thì không “vặt” chút nào. Bởi nó chạm đến phần nhạy cảm (và có khi rất phổ biến) trong tính cách con người. Mà nếu “tự tri tự ngộ” nó, thì tự cười mình là để thoát ra khỏi những đau khổ, chua chát của đời sống, đời văn.
Đặt vấn đề nghiên cứu “Cảm hứng tự trào trong tản văn Nguyễn Quang Lập”, chúng tôi mong muốn khảo sát tất cả những bài tản văn của bọ Lập trên blog Quechoa, tìm con người đằng sau tiếng cười, để hiểu hơn về một nhà văn, một nhà biên kịch có tài của Việt Nam.

Chương 1. Đôi nét về cảm hứng tự trào và tản văn mạng của Nguyễn Quang Lập.
1.     Đôi nét về cảm hứng tự trào trong văn học Việt Nam.
1.1  Về khái niệm tự trào.
Tự: Tự mình, tự chính bản thân mình.
Trào: Cười (cười nhạo), giễu (chế giễu).
Tự trào: Tự cười mình, tự chế giễu mình.
Như vậy, tự trào có thể hiểu là một loại trào phúng nhưng đối tượng trào phúng là chủ thể (chính bản thân tác giả).
1.2  Cảm hứng tự trào trong văn học Việt Nam
Đến nửa cuối thế kỉ XIX, văn học trào phúng Việt Nam đã phát triển thành một dòng lớn mạnh bên cạnh các dòng văn học khác, với một đội ngũ nhà văn đông đảo và những hình tượng nghệ thuật điển hình. Sự phát triển của văn học trào phúng chứng tỏ sự trưởng thành vượt bậc của văn học dân tộc trong giai đoạn lịch sử mới.
Con người thực sự biết cười mình một khi đã trưởng thành, đã có đủ trí tuệ, đã biết đến đau khổ và quan trọng hơn nữa là tự nhận thức được những hạn chế của mình. Thơ văn trào phúng Việt Nam với cảm hứng tự trào đậm nét phải đến Nguyễn Khuyến và Tú Xương mới đạt được điều đó.
          Với văn học hiện đại, cảm hứng tự trào thể hiện đậm nét trong các tác phẩm mang tính tự truyện. Đặc biệt phải kể đến Nguyễn Khải với tiểu thuyết tự truyện “Thượng đế thì cười”, tiếng cười mình, giễu mình rất nhiều cung bậc.
2.     Nguyễn Quang Lập với tản văn mạng.
2.1  Một vài vấn đề tản văn mạng.
Thế kỉ XXI, sự phát triển của công nghệ thông tin cùng sự ra đời của hàng loạt các Website, web blog đã tạo cho văn học mạng nói chung, tản văn mạng nói riêng một môi trường sống mới. Trong mấy năm trở lại đây, số lượng tản văn đăng tải trên các blog tăng lên rất nhiều. Nhìn chung đây đều là tản văn của các tác giả trẻ tuổi, bước đầu khẳng định được vị trí của văn học mạng nói chung và tản văn mạng nói riêng.
Có thể nói, tản văn mạng là một hiện tượng độc đáo mà tản văn Việt Nam thế kỉ trước không có được. Sự độc đáo của nó thể hiện ở sự đa dạng về hình thức và tính pha trộn nhiều phong cách khác nhau như tùy bút, học thuật, báo chí...
Nhìn chung, tản văn mạng có những đặc trưng cơ bản sau: Thứ nhất là tính đối thoại. Sự ra đời của các blog cá nhân chính là cơ sở tạo nên đặc trưng này. Blog đáp ứng nhu cầu giao tiếp, chia sẻ và mong muốn có được sự đồng cảm của con người. Thông qua blog, người viết và người đọc có thể tương tác rất nhanh chóng, trao đổi thông tin, quan điểm, bình luận...Thứ hai, tính tự do. Môi trường mạng hầu như không chịu bất cứ sự kiểm duyệt nào. Vì vậy người viết có thể chia sẻ bất cứ suy nghĩ gì lên blog hoặc trang cá nhân, tính dân chủ do đó cũng được phát huy cao hơn, trên mọi phương diện. Thứ 3, tản văn mạng mang trong mình cái nhìn phi chính thống. Nghĩa là không có cái gì được coi là duy nhất đúng giữa các vấn đề được đề cập trong tác phẩm. Người viết có thể trình bày nhiều cách nhìn nhận, đánh giá ở nhiều góc độ, người đọc có quyền trao đổi, không có quyền bác bỏ hoàn toàn ý kiến của người viết. Bởi đặc trưng này nên tâm lí của những nhà tản văn mạng phần nhiều có sự thoải mái, tự do hơn.
2.2  Tản văn mạng của Nguyễn Quang Lập
Nổi tiếng trên văn đàn với Blog quechoa, Nguyễn Quang Lập hiện đang là một trong những người có blog cá nhân mà lượt truy cập lên đến hơn mười một triệu người mỗi ngày. Ông tự xưng và cũng được độc giả yêu mến gọi là Bọ Lập – cái tên mang đậm chất quê choa.
Tản văn của Bọ Lập có những điểm thú vị gây hứng thú với độc giả. Mà trước hết là cái nhìn phi chính thống, kèm theo đó là sự giải thiêng khá rõ. Nguyễn Quang Lập có thể đem mọi thứ ra cười cợt, bông đùa với giọng văn tưng tửng, “cù rờ cù rựng” cùng lối viết hoạt kê, ngôn ngữ đậm chất khẩu ngữ. Một đặc điểm khác ở tản văn Bọ Lập cuốn hút bạn đọc đó chính là tư duy phản biện, cách Bọ Lập suy nghĩ về vấn đề. Đó có thể là những vấn đề rất quen thuộc nhưng qua lăng kính và cách trình bày của ông, người ta thấy mới mẻ, muốn đối thoại, muốn suy nghĩ lại. Với những dẫn chứng cụ thể, sinh động, không kém phần hài hước, đôi khi châm biếm, mỉa mai, Bọ Lập khiến độc giả bật cười và không khỏi say mê. Cách thức biểu hiện trong tản văn Nguyễn Quang Lập khá tự do, phóng túng, không có một lề lối hay khuôn phép nhất định nào, xuất phát từ quan niệm viết để chơi, viết cho đỡ buồn của Bọ.
Tản văn Nguyễn Quang Lập không khi nào thiếu đi tiếng cười. Và đó là tiếng cười đa giọng điệu. Có người tìm đến tản văn của Bọ để giải trí, rất hợp. Có người muốn biết chuyện “trần trụi” của giới văn nghệ sĩ, cũng rất hợp. Có người muốn học hỏi lối khẩu văn mượt mà, tự nhiên, lại càng hợp. Nhưng tôi, có nhiều “mục đích” khi đến với tản văn của ông. Cũng yêu sự hài hước, vui vẻ, và nhận thấy những người hài hước, vui vẻ là những người luôn tự trào để lạc quan. Tôi tìm đến tản văn Nguyễn Quang Lập như một cách để hiểu mình.




Chương 2. Tự trào trong tản văn Nguyễn Quang Lập nhìn từ phương diện nội dung.
Một Nguyễn Quang Lập đời thường hay một Nguyễn Quang Lập nhà văn, xét cho cùng cũng không thể tách bạch rõ ràng, bởi văn là người, chất văn là một phần của chất người. Hơn nữa, tản văn của Nguyễn Quang Lập lại giàu chất đời và chất người hơn cả. Nhưng trong quá trình nghiên cứu và tìm hiểu, chúng tôi xin được phân tách một cách tương đối hai “con người” trong “con người” Nguyễn Quang Lập để chỉ ra những nét độc đáo về cảm hứng tự trào trong một Nguyễn Quang Lập đời thường và một Nguyễn Quang Lập nhà văn.
1.     Tự trào về một Nguyễn Quang Lập – đời thường.
Nhà văn hay bất kì một người nghệ sĩ nào, đằng sau trang viết và ánh đèn sân khấu, họ cũng là một con người đời thường, trần trụi và chân thực như bất cứ ai. Cũng thói hư tật xấu, cũng lắm nỗi lo toan, cũng kém cái này, dở cái nọ. Nguyễn Quang Lập không viết quá nhiều về bản thân mình, nhưng chừng đó cũng đủ cho chúng thấy một phần nào cuộc sống và con người đời thường muôn màu muôn vẻ của bọ Lập.
Bọ Lập thường viết về cái may, nhất là ăn may.
Từ chuyện lúc bé thơ ăn may với trò chơi cưỡi bò (Một lần dũng cảm): “sợ không dám nhảy nhưng nhảy một cú mà thắng được thằng giỏi nhất hội”, “vừa chiếm lĩnh được lưng bò vừa tống cổ được đối phương rơi xuống đất”. Đến chuyện một anh lính võ vẽ kém cỏi lại được làm Đại ca băng đảng cướp giật khét tiếng khu Mông Dương, Quảng Ninh (Đại ca), chỉ vì liều mạng xông vào đánh nhau rồi “Chẳng dè đá một cú, không biết vào thế kiểu gì mà thằng đầu đảng lộn hai vòng bất tỉnh”. Làm Đại ca rồi thì luôn trong tình trạng “lo thắt ruột” vì sợ có lúc phải “ra tay”.
Câu chuyện kể ra tưởng nghe cho vui mà lại ẩn chứa cái tự cười mình. Chả tài cán gì nhưng tự nhiên được danh thì ai không nhận. Bọ Lập cũng háo danh, háo lợi mà “nhắm mắt làm liều” như ai, chẳng võ vẽ gì lại dám “ăn trên ngồi trốc” cả một bọn đầu trộm đuôi cướp, để rồi nơm nớp lo lắng, khi được cơ hội là thoát thân ngay.
Xưa Tú Xương từng tự giễu mình bằng những vần thơ đầy tiếng cười xen lẫn sự chua chát:
“Hán tự, chẳng biết Hán.
Tây tự, chẳng biết Tây.
Quốc ngữ cũng tịt mít.
Thôi trở về đi cầy.”
                                                      (Về đi cầy)
Nay có một Nguyễn Quang Lập cũng đem khả năng ngôn ngữ của mình ra cùng cười với bạn đọc: “Nghiệm ra trong suốt đời mình, hễ việc gì mình mà cố đều thành cả, trừ việc học ngoại ngữ. Không biết cái đầu mình cấu tạo bằng chất gì mà không sao nuốt nổi món ngoại ngữ. Việc học ngoại ngữ của mình na ná việc cai thuốc lá vậy, học đi học lại bao nhiêu lần tóm lại how are you vẫn là how are you.” Rồi: “Mình thì ngoài tiếng Việt ra, tiếng nào cũng mèo mửa. Tiếng Nga có từ thời học Bách Khoa, đến nay quên sạch không còn một từ, kể cả cái từ “vừa đi vừa đái vừa che” gốc của nó thế nào cũng không nhớ nổi. Ngu thế không biết.” (Make love và take off).
Ngu thế không biết”, “đầu mình cấu tạo bằng chất gì”, ... tưởng như lời của một anh học trò thế hệ 9X, ai ngờ đó lại là của một nhà văn 5X.
Nguyễn Quang Lập kể chuyện rất “thật”. Tất nhiên khái niệm “thật” ở đây không phải dựa trên sự so sánh với đời thực, mà là “thật” của cảm xúc, của tiếng cười. Những câu chuyện từ lúc còn đi học, nhà quê ra tỉnh lơ ngơ, lạc hậu được bọ Lập kể lại rất tự nhiên cùng với tiếng cười nhẹ nhàng, hóm hỉnh.
Đó là chàng trai Quảng Bình lần đầu được tiếp xúc với Hà Nội văn minh, giàu có, “bụng đau quằn quại” chạy vào toilet mà “thấy cái xí bệt cứ ngơ ra, không biết đặt chân vào đâu, loay hoay mãi không biết làm thế nào” (Yêu và văn 1). Rồi tình huống dở khóc dở cười của cậu sinh viên khoa Vô tuyến điện khi được yêu cầu sửa cầu chì: “Ở quê có điện đâu mà biết cầu chì, học Vật lí điểm 9 điểm 10 đỏ choét, bảo vẽ kí hiệu cầu chì thì nửa giây là xong, nhưng cái cầu chì tròn méo thế nào thì chịu. Mang tiếng sinh viên khoa Vô tuyến điện mà cầu chì không biết, đến nhục.”  Nhục vậy nhưng nào riêng cái nhục của bọ Lập ngày ấy. Câu chuyện cười xong lại khiến người ta ngẫm thêm về chất lượng giáo dục nước nhà. Thời bọ Lập đã qua lâu, nhưng tình trạng được 9, 10 Vật lý mà cầu chì nhìn thế nào không biết chắc chắn vẫn còn. Vậy nên, tiếng cười này đâu phải Nguyễn Quang Lập chỉ tự cười mình, ông còn muốn chúng ta suy ngẫm mà tự cười mình nữa vậy.
Đối với đám văn nghệ sĩ thì thuốc lá có thể coi là một người bạn chí cốt, một “nàng tiên” cho tâm hồn phiêu du, lãng đãng. Chuyện họ cố gắng bỏ người bạn ấy thật muôn nỗi khóc cười. Nguyễn Quang Lập không nằm ngoài trường hợp đó. Đồng hành với ông còn có Trịnh Công Sơn, Nguyễn Khoa Điềm, Phạm Ngọc Tiến,... Bọ Lập tự thú nhận đã “có gần trăm lần” tuyên bố “hút điếu cuối cùng”, rồi thì “chừng năm chục lần uống cốc cà phê, gần hai chục bận làm bữa nhậu, công bố bạn bè “hút điếu cuối cùng”, thậm chí là “trịnh trọng viết lên tường “Nguyễn Quang Lập bỏ thuốc lá từ đây, nếu tái nghiện hắn là con chó” nhưng rồi “Được ba ngày chịu không thấu đành chấp nhận làm con chó.”  (Hút điếu cuối cùng).
Những lúc say sưa cũng muốn chừa
Muốn chừa nhưng tính lại hay ưa.
Hay ưa nên nỗi chưa chừa được
Chừa được nhưng ông vẫn chửa chừa.
(Chừa rượu)
Thế kỉ trước có thi sĩ Nguyễn Vỹ nổi tiếng với câu thơ “Nhà văn An Nam khổ như chó!” vừa cười vừa khóc than cho những kiếp người nặng gánh văn chương như mình và bạn bè, lúc nào cũng lầm than, đói rách, lo miếng ăn hàng ngày. Tiếng cười nghe sao mà chua chát, đắng cay. Nay có bọ Lập viết về việc bỏ thuốc lá của giới nghệ sĩ, cũng chỉ vì “Cái thời một điếu thuốc More có thể mua được ba cân gạo quốc doanh, một gói thuốc lá ba số 5 có thể tước mất bữa cơm rau của cả nhà, người ta không sợ ốm đau vì thuốc mà vì sợ đói nghèo.” (Hút điếu cuối cùng). Bỏ thuốc lá vì họ còn sợ “hèn đi vì thuốc lá”. Nhưng rồi họ có bỏ được đâu, đến thân con chó họ còn cam phận làm. Vừa cười vừa mếu cùng nhau cả.
2.     Tự trào về một Nguyễn Quang Lập – nhà văn.
Xưa nay chuyện các nhà văn tự cười mình không còn xa lạ. Từ thời trung đại đã có Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến, Tú Xương... Gần đây, nhà văn Trần Kim Trắc có cho xuất bản cuốn “Tự cười”, Hồ Anh Thái với “Bốn lối vào nhà cười”, ... với cảm hứng tự trào đậm nét. Nguyễn Quang Lập không có riêng một tập truyện ngắn hay tản văn “tự cười” nào nhưng  khi đọc các bài viết trong mục Bạn vănTạp văn trên blog Quechoa, độc giả dễ dàng nhận thấy ẩn sau những câu chuyện, phía sau những tiếng cười về làng văn, bạn văn, là một bọ Lập – nhà văn đang tự soi mình, cười mình, hóm hỉnh, và có nét rất đáng yêu.
Nổi tiếng với tài danh làm thơ từ năm mười tuổi, những tập truyện ngắn và tiểu thuyết gây được tiếng vang trong giới văn học như “Tiếng gọi phía mặt trời lặn”, “Những mảnh đời đen trắng”, ..., giải vàng và bạc cho kịch bản phim xuất sắc “Đời Cát”,Thung lũng hoang vắng”, ... gần đây lại trở thành hot blogger, Nguyễn Quang Lập là một cái tên đáng chú ý của làng văn Việt Nam. Với bảng thành tích như vậy, ông xứng đáng được tôn vinh là một nhà văn tài năng. Nhưng bọ lại không nghĩ vậy.
Trong “Năm lần trời đánh”, bọ Lập lí giải những gì mình gặt hái được hôm nay là nhờ...đá rơi trúng đầu. Sở dĩ bọ trở thành thần đồng thơ từ năm mười tuổi là vì hồi học lớp một, khi tránh bom, bọ bị một tảng đá rơi trúng đầu, “cục thơ” lòi ra, “rứa là biết làm thơ thôi”. Đến lần tai nạn tiếp theo thì “ô thơ xẹp đi, ô văn xuôi nó lòi ra, tự nhiên chán làm thơ, hí hoáy làm văn và trúng, làm phát trúng liền”. Trở thành hot blogger cũng nhờ lần “trời đánh” nặng nhất “chấn thương sọ não liệt nửa người, “ăn có người đút, ỉa có người chùi”, suốt ngày nằm nhà, ru rú buồn, ru rú viết, nhờ thế mà số lượng bài, số lượng còm (comment) và pv (page view) cứ tăng vù vù. Cứ theo cách giải thích của Nguyễn Quang Lập thì chắc hẳn nhà văn nước ta nhiều người mong được trời đánh lắm.
Nhưng một Nguyễn Quang Lập thành công nhường ấy lại có rất nhiều lúc “chẳng biết khóc hay cười” trước dòng chảy nghiệt ngã của văn chương và đời sống. “Năm 2013, Quỹ Ford mở lớp đào tạo biên kịch trẻ cho Việt Nam, mình được thuê đến dạy. Học trò đều đã tốt nghiệp khoa Văn, có đứa thạc sĩ văn chương, nhưng cái tên Nguyễn Quang Lập chúng nó nghe lạ hoắc, như tên mấy ông gác chợ.”
Có lẽ điều muôn thuở các nhà văn Việt Nam và cả các nhà văn thế giới luôn lo lắng, dù nói ra hay không, là người ta sẽ quên mình, không biết đến mình. Ngày nay, sự phát triển chóng mặt của đời sống văn học (xét trên phương diện số lượng, chưa kể đến chất lượng) cùng việc thờ ơ, kém cập nhật văn chương đương đại của con người thì việc một nhà văn bị lãng quên là điều khó tránh khỏi. Và cũng có lẽ, không riêng gì Nguyễn Quang Lập, mà rất nhiều các nhà văn khác của ta, từ cổ chí kim cũng từng rơi vào hoàn cảnh đó.
Vậy nhưng bọ Lập vẫn cười, vẫn hehe, hihi, khe khe trước sự thật đó, vì đơn giản đó chính là sự thật. “Chẳng ai biết mình viết gì, viết như thế nào, giỏi lắm cũng chỉ biết mình là ông viết Đời Cát, thế thôi. Hễ gặp mình, ông nào ông nấy thân thiện lắm, nói a, chào nhà văn Ngô Quốc Lập, chào nhà văn Bùi Tiến Lập... Khổ thân, toàn nhầm tên mình với mấy ông đâu đâu, sao không nhầm là Ngô Bảo Lập, Nguyễn Tấn Lập có phải oách không, hehe”. (      )
Lúc còn sống sợ người ta không biết đến, khi chết rồi lo sẽ bị lãng quên, lo chẳng có một tác phẩm giá trị để Văn đàn nhắc tới. Cười nhiều rồi, cũng có lúc Nguyễn Quang Lập phải thốt lên đầy chua xót và cay đắng khi nhận ra “nghiệp văn thật nghiệt ngã” bởi “cả vạn thằng bỏ ra cả cuộc đời, đổ mồ hôi sôi nước mắt, tóm lại chỉ còn vài móng.” Ông cười trong những dự cảm về tương lai đáng buồn: “Nguyễn Du hai trăm năm còn có người nhắc tới và yêu mến, mình có được hai chục năm sau khi chết không, chắc không. Nguyễn Trọng Tín có Mười sáu cuộc chiến tranh, tiểu thuyết Bè Trầm, mình có cái gì nhỉ, than ôi.”
Vậy nên, đôi khi, các nhà văn vẫn phải chấp nhận người ta “phẫu thuật” “đứa con tinh thần” của mình để đứa con ấy đến được với độc giả, với đời sống văn chương. Bọ Lập cười méo xệch khi đi qua nhà hát:“Người ta đang dựng vở “Mùa yêu đương” của mình. Cái kịch bản bị sửa nát bét cho hợp thời và ăn khách, cũng buồn nhưng thôi kệ. Nếu cố giữ lấy kịch bản, hay đấy, nhưng không có người xem thì mình cũng chẳng sung sướng gì”. Dù cái sung sướng ấy chỉ đến từ các fan mà “gái thì tiền mãn kinh, trai thì đái ướt quần.” (Một mối tình)
Có những chuyện bọ Lập kể tưởng chỉ nghe cho vui, đến đoạn kết mới thấy ông kết một câu rất buồn, như trong “Một lần diễn kịch”. Vở Mùa hạ cay đắng của ông đến giờ công diễn thì diễn viên nam chính bị đau thận, thế là bất đắc dĩ ông phải nhận vai đó vì là người thuộc kịch bản nhất. Ai ngờ đang diễn thì nghe tin ba mất mà không thể bỏ diễn để về ngay. Kết chuyện, Nguyễn Quang Lập liên tưởng mình đến thân phận anh Kép Tư Bền trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan và “giống cho đến tận bây giờ, hu hu”. Phải sâu sắc lắm mới hiểu tại sao bọ Lập lại nói vậy. Lâu lắm rồi bọ có còn đi diễn kịch nữa đâu. Nhưng đúng là cuộc đời là sân khấu lớn, càng nổi tiếng càng phải diễn nhiều. Lắm khi diễn vai hài mà trong lòng thì nước mắt đang rơi. Cười cho phận bọ cũng là thương cho phận người nói chung.
Chương 3. Tự trào trong tản văn Nguyễn Quang Lập nhìn từ phương diện nghệ thuật.
1.     Nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ
1.1Khẩu ngữ
Theo cách hiểu thông thường nhất thì khẩu ngữ chính là thứ ngôn ngữ mang đậm nét của lời ăn tiếng nói hằng ngày. Nói cách khác, đây là thứ ngôn ngữ suồng sã, thông tục, có phần đối lập với ngôn ngữ viết.
 Nhà văn Bảo Ninh nói: "Chỉ ước ao chứ không bao giờ đạt nổi  khả năng "khẩu văn" của Nguyễn Quang Lập. Viết được như thế thật sướng, nhưng muốn sướng được như vậy phải đổi cả một đời trần ai, nào ai dám đổi". “Khẩu văn” như Bảo Ninh nói chính là cách “hành văn theo kiểu hoạt khẩu”.
Khẩu ngữ chính là yếu tố đặc biệt tạo nên sự độc đáo cho tản văn Nguyễn Quang Lập. Lời ăn tiếng nói của đời sống thường nhật được ông đưa vào văn chương một cách sáng tạo, tự nhiên, khiến độc giả như được đối thoại trực tiếp với nhà văn, cảm nhận được ánh mắt, cử chỉ, điệu bộ, nghe được cả tiếng nói với ngữ điệu và chất giọng Quảng Bình đáng yêu. Lời văn bỗng chốc trở nên gần gũi, tươi vui, mượt mà và có sức hấp dẫn lạ lùng.
Khẩu ngữ trong tản văn Nguyễn Quang Lập biểu hiện cụ thể nhất ở việc sử dụng dày đặc phương ngữ Quảng Bình và những lời lẽ thông tục, kết hợp cùng ngôn ngữ mạng.
1.1.1    Phương ngữ Quảng Bình
Tự trào là tự cười mình, giễu mình. “Chất mình” vì thế càng phải đậm đặc, rõ nét. Dùng tiếng quê hương mình để giao tiếp với độc giả chính là một cách gia tăng “chất mình”.
Vốn sinh ra và lớn lên trên mảnh đất Quảng Bình gió lào cát trắng, từ thuở ấu thơ, điệu bộ, giọng nói của con người Quảng Bình đã thấm đẫm vào tâm hồn và con người Nguyễn Quang Lập. Ngay từ cách đặt tên blog là quechoa và cách xưng hô là bọ đã thể hiện chất Quảng Bình sâu sắc. Viết tản văn, ông đã lựa chọn chính phương ngữ thân thương, đặc biệt ấy và coi đó như một thứ “đặc sản” hiếm có trong cả một “thế giới ẩm thực tản văn mạng” đa dạng, phong phú như hiện nay.
Trong tất cả những bài tản văn chúng tôi khảo sát, không chỉ xét riêng những bài mang đậm chất tự trào, bài nào cũng xuất hiện các phương ngữ. Các phương ngữ quen thuộc trong tản văn bọ Lập đó là: mần, tau, mi, ba mạ, răng, rứa, hè,...
Việc sử dụng nhiều từ địa phương dường như nằm ngoài dụng ý nghệ thuật của Nguyễn Quang Lập. Bởi “Anh viết dường như rất dễ, nhưng sự dễ ấy trái ngược hoàn toàn với dễ dãi. Đố anh dễ dãi nào viết được như thế….” (Bảo Ninh). Và cũng bởi Nguyễn Quang Lập
Cái hay là Lập biết sử dụng nói tục, phương ngữ ở mức độ nào để câu chuyện cuốn hút, mà không gây phản cảm. Bây giờ ngôn ngữ Nguyễn Quang Lập trong Ký ức vụn, Bạn Văn đã bắt đầu xâm nhập vào đời sống. Ra Đồng Hới cuối tháng rồi, khi công bố danh sách Ban chấp hành Hội văn nghệ mới, có người thốt lên: “Ua chầu chầu, chấp hành bữa ni trẻ hè”. Ua chầu chầu là chữ của Lập. Những chữ như hay hè, hay hè, thất kinh, thế a, thế a… trong Ký ức vụn hay Blog Quê choa cũng đã được nhiều người sử dụng. Ngay hai chữ “bọ Lập” từ phương ngữ đã thành quốc ngữ khi nào không hay. Ai cũng gọi “bọ Lập” rất thân tình, Nghĩa là Lập đã tạo thêm chút vốn từ vựng cho cuộc sống dân gian thêm phong phú. Đó là lập ngôn đó, Lập nờ…
1.1.2    Từ ngữ thông tục và ngôn ngữ mạng
Khẩu văn Nguyễn Quang Lập còn được thể hiện qua những từ ngữ mang tính tục mà trong đời sống thường nhật, người ta vẫn sử dụng để giao tiếp với nhau. Thực ra, nói tục trong văn chương không phải vấn đề lạ lẫm và mới mẻ, song như các nhà nghiên cứu đã nhận xét, tục trong văn Bọ Lập là thứ tục “đầy chất nhân văn”. Hay như TS Đỗ Ngọc Thống cho rằng cái tục trong văn Nguyễn Quang Lập là một biện pháp tu từ, mà đã là biện pháp tu từ thì cũng có nghĩa rằng, văn chương ấy đã đạt được giá trị thẩm mĩ rồi. Và chính những từ ngữ thông tục này mang lại hiệu ứng hài hước, bổ trợ cho lối văn hoạt kê của Bọ Lập.
Độc giả đọc tản văn như được tham gia vào một câu chuyện tán gẫu, hay nói như ý của tác giả chính là tham gia vào chiếu rượu quechoa; được nghe Bọ Lập kể chuyện đời, chuyện mình, cùng cười và cùng khóc. Bọ nói tục mà chẳng cần để ý tới ai, như một cách “nghĩ sao nói vậy” (tất nhiên có nghệ thuật), không câu nệ, ngại ngùng với bất cứ đối tượng nào. Chính sự giao tiếp “suồng sã” giữa nhà văn – bạn đọc đã giúp cho chất tự trào càng đậm nét.
Không chỉ có vậy, độc giả còn bắt gặp nhiều câu chửi cửa miệng rất “đời”: bố mày, bố con cu mày, chết cha, éo gì, đ.mẹ... Rồi những từ chỉ bộ phận sinh dục người: chim, cu, bướm... Phạm Xuân Nguyên trong lời tựa đầu sách của Bọ Lập đã viết rằng: “Lập viết tục nhưng không tục, vì đó là “một thứ mắm muối dư vị rất riêng, được Bọ Lập gia giảm có liều lượng vừa đủ làm cho câu chuyện mặn mòi, làm đậm đà cho nhân vật được nói đến”.  Bởi thứ “văn chương vô trùng” (chữ của PGS.TS Trần Ngọc Vương) sạch sẽ làm mất đi sự thân mật, thù tạc dân dã, đời thường nơi chiếu rượu. Những chữ tục như ẻ vô, cứt đái… tạo ra ngôn ngữ nhân vật rất khu biệt, gây bất ngờ.
Ra đời, phát triển trong môi trường mạng nên tản văn Nguyễn Quang Lập luôn chứa đựng những từ ngữ mang đặc trưng ngôn ngữ mạng. Ông sử dụng thường xuyên những icon, tiếng lóng biểu lộ cảm xúc như hi hi, he he, ke ke ke, khe khe, khơ khơ khơ, ... Hầu hết các sáng tác của ông đều kết thúc bằng hi hi. Chẳng hạn: “Mình bê bát bún bỏ tới bàn thằng Bê cờ lê mê tê nói đùa: tao được hai bát, một bát sĩ quan, một bát văn nghệ he he”. (Anh Thu). Hay “Tiến trọc ơi, bỏ gì mà bỏ trịnh trọng thế? Tụi mình dân cà chớn, phàm cái gì cứ trịnh trọng đều hỏng cả. Bọ Lập không tin đâu, thách Tiến trọc bỏ được đấy, hi hi.” (Hút điếu cuối cùng). Có thể thấy, những icon trên được sử dụng với mất độ lớn, phần đa là icon thể hiện các sắc thái khác nhau của tiếng cười, một số là huhu. Nhưng hu hu lại không hẳn khóc vì đau buồn, mà như cái cười không được, khóc chẳng xong. Ví như trong “Phận đàn bà 4” : “Chợt xe con đi vào, chị bỏ mình chạy tới, nói âu...hân hạnh hân hạnh, o nờ rịt o nờ rịt (honored)...bỏ mình đứng trơ khấc ở cổng, hu hu”. Hay tiếng hu hu trong “Một lần diễn kịch”, Bọ Lập kể về việc trở thành diễn viên kịch bất đắc dĩ nhưng thành công vang dội, đang diễn nghe tin ba mất, vẫn phải cố gắng kìm nước mắt và diễn tiếp “Về nhà đúng 5h sáng, khi đó người ta đóng nắp quan tài mất rồi. Nghĩ cái số kiếp của mình sao mà giống y chang anh Kép Tư Bền trong truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan đến thế, giống cho đến tận bây giờ, hu hu”.
1.2 Kết hợp từ và câu văn đặc sắc
1.2.1    Kết hợp từ đặc biệt
Miêu tả niềm vui sướng, Nguyễn Quang Lập thường dùng những kết hợp từ như: sướng củ tỉ, nghe sướng rêm, sướng ngây ngất, sướng cái lỗ rốn kinh khủng, sướng muốn ngất luôn... Đi kèm với đó là cách miêu tả tiếng cười rất “Bọ Lập”: cười phe phé, cười sần sật, cười cái xoẹt, thổi còi cái roẹt, mừng hết lớn...
Mỗi lần đọc bài trên blog lại nhìn thấy hình ảnh Bọ Lập đầu trọc, miệng cười đầy chất “trào phúng”. Tiếng cười trong tác phẩm của Bọ cũng vậy. Nhẹ nhàng mà thấm thía, hài hước nhưng vẫn có chút gì đó sâu cay. Việc tạo ra những kết hợp từ đặc biệt, “không trộn lẫn” như trên góp phần làm nên một cách tự trào của riêng Bọ Lập – tiếng cười giễu mình nhiều cung bậc, nhiều cảm xúc.
1.2.2 Câu văn đặc sắc
Hình thức văn bản của thế loại tản văn là văn xuôi nên câu văn trong tác phẩm phần lớn là câu trần thuật. Đặc trưng này có được là do mỗi tác phẩm tản văn đều có chức năng cung cấp thông tin về tâm tư, tình cảm, tình yêu hay nỗi băn khoăn, trăn trở...của người viết. Ngoài ra, tùy vào mục đích khác nhau, người viết hoàn toàn có thể sử dụng những kiểu câu khác như nghi vấn, cầu khiến... Đồng thời, để chế tạo nhịp điệu trong từng đoạn hay toàn bộ tác phẩm, người viết cũng có thể sử dụng đa dạng các kiểu câu đơn, câu ghép hay câu phức để nhịp văn có sự biến đổi linh hoạt theo chủ ý tác giả.
Trong tản văn Nguyễn Quang Lập, về cơ bản, loại câu trần thuật được tác giả sử dụng với tần số nhiều nhất. Bên cạnh đó là một kiểu câu rất hữu dụng và có vẻ mang đậm chất Nguyễn Quang Lập, đó là câu đặc biệt. Câu đặc biệt trong tác phẩm của ông rất ngắn, thường chỉ gồm một hai từ, biểu lộ cảm xúc nhanh chóng, đầy tính biểu cảm như: Kinh. Thất kinh. Oách kinh. Sướng kinh. Hay. Tài. Lạ. Phục... Chẳng hạn như “Đó, thơ anh đó. Có mỗi chữ mà thức trắng đêm, làm đi làm lại mấy năm trời. Thất kinh” (Nhớ Trần Dần). Hoặc “...ẵm cái giải A cuộc thi tiểu thuyết Hội Nhà văn, tiền tiêu chưa hết đã thấy ra Sống khó hơn chết rồi. Kinh!” hay “Đã đến kì tóc bạc da mồi, nghe nói nộp thuế cho vợ thằng nào cũng ớn, anh Đỉnh gần sáu chục tuổi đầu vợ bắt nộp thuế giá trị gia tăng anh cũng không ngán. Phục!” (Trung Trung Đỉnh). Những câu văn gây ấn tượng và hiệu ứng rất mạnh, đặc biệt với giới trẻ.
Kết hợp từ đặc biệt và câu văn cấu tạo mới lạ có thể nói là hai nét riêng trong tản văn Nguyễn Quang Lập, đặc biệt chúng góp phần mang đến nhiều tiếng cười cho độc giả, cũng là một cánh cửa để độc giả hiểu hơn về nhà văn.
2.     Các thủ pháp tự trào
2.1 Nói trạng
Nói trạng hiểu đơn giản là nói những chuyện bông đùa, khoác lác cho vui. Đọc những câu chuyện Bọ Lập kể, hầu như ai cũng thoáng thấy hình ảnh anh bộ đội trên xe ô tô, say mê nói trạng chọc cười mọi người trong hồi ức của Ngô Minh về Nguyễn Quang Lập. (Nguyễn Quang Lập u u chầu chầu). Trong tản văn của mình, đôi lúc Bọ khiến bạn văn giận vì viết nhiều chuyện khiến họ “xấu hổ” quá, trần trụi và “đời” quá. Nhưng đúng như Ngô Minh nói, có yêu mến, quý trọng bạn bè thật sự, Bọ Lập mới nhớ được những chuyện nhỏ nhặt, đáng yêu như vậy, dầu có “thêm mắm, dặm muối” cũng là cái bệnh của anh hành văn.
Viết về mình, nhằm lí giải cái tài của mình, trong truyện “Năm lần trời đánh”, Bọ kể ra những lần bị gạch đá rồi tai nạn chấn thương, nhờ đó mà “cục thơ, cục văn lòi ra”. Chuyện nghe ai cũng biết là vô lý, nhưng vẫn thấy hay, vẫn thấy duyên và vẫn muốn say mê đọc nữa. Hay chuyện Bọ được làm đại ca của băng đảng cướp giật khu Mông Dương, Quảng Ninh. Một cú đá của anh lính không biết võ, nhát gan, sợ chết mà có thể làm tên đầu sỏ ngất lịm hai ngày. Chuyện như đùa nhưng hình như chẳng ai tìm đến tản văn Bọ Lập để xét mấy cái đùa đó. Mà có khi tìm đến là vì thích, vì mê cách đùa đó của Bọ.
Nói trạng vì thế, là một thủ pháp rất đắc địa của Nguyễn Quang Lập, cả khi kể chuyện mình lẫn kể chuyện người. Chính thủ pháp này tạo nên tiếng cười nhiều dư âm, dư vị cho bạn đọc. Càng khiến cho Bọ được phóng tay với những câu chuyện bên chiếu rượu của mình.
2.2 Tạo giai thoại
Giai thoại: Mẩu chuyện lí thú được lưu truyền rộng, có liên quan ít nhiều đến nhân vật có thật trong lịch sử, xã hội.
Tạo giai thoại: Chính là “sáng tạo” ra chuyện, hay nói nôm na là bịa chuyện. Thủ pháp này được Nguyễn Quang Lập sử dụng nhiều nhất ở tập Bạn văn. Tuy vậy, ông không ngoại lệ chính mình.
Những câu chuyện bọ Lập hoàn toàn viết về mình không nhiều. Thường thì ông lấy người mà ngẫm ta. Có những câu chuyện độc giả bán tin bán nghi, nhưng cứ thích đọc, say mê đọc.
Chuyện Hoàng Phủ Ngọc Tường, Ngô Minh, Nguyễn Khoa Điềm...và cả Bọ thi nhau uống nước giải để chữa bách bệnh trong Niệu liệu pháp khiến bạn đọc không khỏi buồn cười, đặc biệt với cái kết bất ngờ về Hoàng Phủ Ngọc Tường – người duy nhất âm thầm ngậm nước giải bao lâu nay với mong muốn “răng chắc, cặc bền”. Câu chuyện vui vẻ, kể để giải khuây, để cười với nhau, để hiểu thêm về giới văn nghệ sĩ, nhiều lúc cũng “xỏ” nhau “đểu” lắm.
          Giai thoại về các nhà văn được in đầy đủ trong tập Bạn văn, chuyện nào cũng có mặt Bọ Lập với tiếng cười đa cung bậc: Khe khe, hi hi, khơ khơ khơ, he he... Mỗi câu chuyện chỉ một vài nét chấm phá mà đọc xong khó lòng quên nổi. Cũng bởi ấn tượng và sự thú vị mà chuyện mang lại. Cười bạn, cũng để cười mình. Bọ Lập chưa khi nào tách mình khỏi chuyện của bạn bè mà đứng ngoài “cười nụ”. Cảm hứng tự trào vì vậy, luôn biểu hiện trong mỗi “giai thoại” nhà văn hay con người.



















PHẦN III. KẾT LUẬN 
          Với vốn kiến thức có hạn cùng những hiểu biết còn sơ lược về Nguyễn Quang Lập và thể loại tản văn, người viết trình bày những nét khái quát nhất, phần nào mang tính chủ quan về cảm hứng tự trào trong tản văn Nguyễn Quang Lập về phương diện nội dung và phương diện nghệ thuật. Trên phương diện nội dung, người viết phân tách tương đối một Nguyễn Quang Lập nhà văn và một Nguyễn Quang Lập đời thường để tìm hiểu. Thực chất hai “con người” này khó lòng tách biệt, song với mục đích hiểu hơn về cảm hứng tự trào, người viết cũng thu nhận được những kết quả nhất định. Trên phương diện nghệ thuật, người viết chỉ ra những nghệ thuật liên quan đến cảm hứng tự trào, cụ thể là nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ và các thủ pháp tự trào. Trong nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ, người viết đặc biệt nhấn mạnh đến phần “Khẩu ngữ” – nét riêng của Bọ Lập. Phần các thủ pháp tự trào, do chưa có điều kiện tìm hiểu kĩ lưỡng nên sự phân tích còn sơ sài và nhiều thiếu sót, người viết mong được nghiên cứu kĩ hơn ở đề tài sau.
Tôi có một gia đình bình thường, nhìn lên chẳng bằng ai, ngó xuống còn hơn ối người, thế là được rồi. Mong muốn thì vô cùng, biết nói sao. Điều tôi mong nhất là có đủ sức khỏe để viết nốt những gì mình có thể viết được. Nói thật, tôi không sợ không đủ tài, tài mình chỉ có chừng đó thôi, cố thêm cũng chẳng được, tạm gọi là đủ, chỉ sợ không đủ sức khỏe. Giá như hồi trẻ tôi biết được điều này thì hay biết bao nhiêu...” Đó là tâm sự của Nguyễn Quang Lập khi trả lời một bài phỏng vấn. Có lẽ Bọ đang nuối tiếc rằng tuổi trẻ đã chẳng chăm chỉ viết nhiều, lao động  nhiều. Lời tâm sự nghe thoáng chút xót xa.
Qua blog của các nhà văn khác, tôi còn biết Bọ Lập là một người rất mau nước mắt, đến thăm bạn bè thấy đau ốm, khó khăn, ông cứ khóc hu hu. Con người là vậy. Bên ngoài luôn vui vẻ, hài hước thì bên trong lại càng nhiều nước mắt. Tìm hiểu về cảm hứng tự trào trong tản văn của Bọ, tôi biết đó chẳng phải chỉ tự cười mình, mà còn “tự trào” nước mắt nữa.
Xin mượn lời nhà thơ Trần Đăng Khoa để kết thúc vấn đề:
Trong một thế giới có đủ bình tâm, người viết nhỏ hơn người đọc, người đọc nhỏ hơn quyển truyện họ đang đọc, và quyển truyện nhỏ hơn sự đọc. Người viết và người đọc rồi chết, truyện rồi quên. Sự đọc ở lại và làm nên một phần mênh mông trong định nghĩa của việc làm người.”



TÀI LIỆU THAM KHẢO.
1.     Các bài viết đăng trên bolapquechoa.blogspot.com.
2.     Thơ tự trào trong Quốc Âm thi tập của Nguyễn Trãi, Ngô Gia Võ. Thông báo Khoa học Số 5, 1999.
3.     Thơ tự trào của Nguyễn Khuyến và Tú Xương từ góc nhìn so sánh, Đặng Khánh Hiền, 2007.
4.     Sự kết hợp giữa yếu tố tự trào và tự thuật trong phú Nôm Trung Đại/ Đàm Anh Thư . Tạp chí Nghiên cứu văn học Số 5, 2010.
5.     Bước đầu tìm hiểu tản văn Việt Nam thời kỳ đổi mới, Lê Trà My, 2002.
6.     Tản văn Việt Nam thế kỷ XX (từ cái nhìn thể loại), Lê Trà My, 2008.
7.     Đặc điểm thể loại tản văn của Tô Hoài, Phạm Thị Thanh Thuỷ, 2008.
8.     Tản văn Việt Nam thập kỷ đầu thế kỷ XXI, Trần Thị Thu Phương, 2011.
9.     Cảm nghĩ về truyện ngắn của Nguyễn Quang Lập, Phan Thị Diễm Phương, Tạp chí Văn học Số 4, 1999.
10.             Ngôn từ nghệ thuật Nguyễn Quang Lập, Vũ Thị Mến, 2011.


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét